Dạy học Ngữ văn THPT từ góc nhìn chương trình giáo dục mới

(VNGL – Văn học trong nhà trường). Căn cứ mục tiêu dạy học của chương trình Giáo dục phổ thông 2018, việc đổi mới của dạy học môn Ngữ văn bám sát định hướng mục tiêu phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh (HS); giúp HS vận dụng thành thạo kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn, khắc phục tình trạng sao chép văn mẫu.

1.

Sách giáo khoa, chương trình được thiết kế, biên soạn theo hướng chuyển từ diễn giải, thuyết giảng sang tổ chức hoạt động học cho HS. Môn Ngữ văn tổ chức rèn cho HS kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Vì thế, để đạt mục tiêu và theo định hướng đổi mới các môn học nói chung, Ngữ văn nói riêng cần tăng cường tích hợp và phân hóa; đa dạng hóa các hình thức tổ chức, phương pháp và phương tiện dạy học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Để tổ chức hoạt động học cho HS, người thầy cần nắm vững yêu cầu và kĩ thuật thực hiện các bước: khởi động bài học, giao nhiệm vụ cho HS, hướng dẫn HS học hợp tác, hướng dẫn HS tự ghi bài… Giáo viên (GV) giảm thời gian nói, HS tăng cường hoạt động học (cá nhân, nhóm, lớp). GV chỉ hỗ trợ, không làm thay, không trả lời thay và nhất thiết phải tạo được niềm vui, niềm hứng khởi cho HS.

Sách giáo khoa Ngữ văn trước đây chủ yếu soạn theo tiến trình lịch sử của văn học giờ đây soạn theo thể loại. Ngoài các bài học trong sách giáo khoa còn có Chuyên đề học tập Ngữ văn. Có thể nói, chương trình Ngữ văn hiện nay đã phần nào xóa bỏ khoảng cách giữa văn và đời. Các bài học như Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận hay Thế giới đa dạng của thông tin (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), bài Văn bản thông tin (Bộ Cánh diều), bài Những di sản văn hóa (Bộ Chân trời sáng tạo)… khiến cho bộ môn Ngữ văn không còn là câu chuyện trên trang sách, trong nhà trường mà nó gần gũi hơn và có thể vận dụng vào đời sống hằng ngày.

Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa đáp ứng nhu cầu của thời đại, song cũng đòi hỏi ở thầy cô dạy văn yêu cầu nắm vững tinh thần, mục tiêu, định hướng đổi mới để có phương pháp dạy thích hợp.

Học sinh Trường THPT Quy Nhơn đang tìm hiểu văn học nghệ thuật tỉnh Bình Định (cũ) qua các tác phẩm VHNT tại thư viện trường. Ảnh: V.P

Khi dạy bài đầu tiên trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) có tên Sức hấp dẫn của truyện kể, có không ít giáo viên lúng túng về phương pháp. TS Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên Bộ sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức với cuộc sống) lưu ý: “Một số thầy cô giáo vẫn chưa chú ý đến “mã thể loại” của thần thoại, vẫn chỉ chú ý đến nội dung nên không coi dạy thần thoại là yêu cầu phù hợp. Có thầy vẫn dành riêng 1 tiết để dạy phần Tri thức ngữ văn, sa đà vào lí thuyết nên kêu nặng. Cần chú ý đến mã thể loại của văn bản, có như thế thì HS mới có khả năng đọc một văn bản mới hoàn toàn thuộc thể loại đã học. Tri thức ngữ văn thì HS tìm hiểu trước ở nhà, đầu bài học chúng ta chỉ cho HS tiếp cận sơ bộ rồi củng cố dần qua quá trình đọc hiểu các văn bản cụ thể. Không dành hẳn một tiết để dạy các khái niệm lí luận văn học. Nếu dạy hẳn 1 tiết riêng thì sẽ rất hàn lâm và rất nặng! Một điều đáng lưu ý nữa là nhiều tri thức ngữ văn ở các bài được phát triển từ lớp dưới, không phải tất cả đều là mới hoàn toàn đối với HS. Khi HS đã học sách giáo khoa mới từ THCS thì mấy khái niệm đầu lớp 10 đã là khá quen thuộc với các em”.

2.

Giúp HS vận dụng thành thạo kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn nói một cách khái quát, nếu trước đây GV chú ý truyền đạt kiến thức nội dung và nghệ thuật từng tác phẩm cho HS thì hiện nay GV chú trọng cung cấp cho HS công cụ, kỹ năng cơ bản, cần thiết để khi tiếp cận tác phẩm mới sẽ biết cách đọc, cách phân tích. Muốn vậy GV phải chú ý mã thể loại, HS nắm chắc đặc trưng thể loại để tiếp nhận tác phẩm khác ngoài sách giáo khoa. Điều đó sẽ hạn chế được tình trạng chép văn mẫu của người học. GV sẽ vất vả hơn bởi lẽ giờ dạy không đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà phải suy ngẫm nhiều về phương pháp để tổ chức giờ dạy giúp học sinh có thể tự mình chủ động chiếm lĩnh tri thức một cách tối đa. Với cách dạy đổi mới này, HS có nhiều cơ hội hơn để bày tỏ quan điểm, chính kiến, trao đổi, thảo luận, tranh luận, đặc biệt là trong những giờ dạy nói. HS có nhiều cơ hội để rèn luyện các kĩ năng: trình bày vấn đề, làm việc nhóm, phản biện…

TS Ngữ văn Chu Đình Kiên, giảng viên trường ĐHSP Huế: Chương trình giáo dục phổ thông Ngữ văn 2018 mục tiêu phát triển năng lực, phẩm chất được chú trọng phát triển tối đa, từ đó giúp người học vận dụng thành thạo kiến thức, kĩ năng Ngữ văn vào thực tiễn cuộc sống. Việc thiết kế tri thức Ngữ văn theo hình thức “đồng tâm” theo từng bài học để hướng tới rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe giúp người học phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của bản thân. Sách giáo khoa mới có “tính mở”, tính linh hoạt cao, vì thế bên cạnh việc người thầy phải vận dụng tối đa các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại thì vai trò định hướng, dẫn dắt mở rộng tri thức Ngữ văn trở nên rất quan trọng. Như vậy, người thầy không chỉ có vai trò thiết kế, xây dựng mà trở thành kĩ sư tâm hồn, người truyền cảm hứng thực thụ, đúng nghĩa. Bên cạnh đó, với thay đổi trong hình thức kiểm tra đánh giá trong chương trình sách giáo khoa mới đã góp phần “triệt tiêu” hiện tượng văn mẫu, đánh giá đúng, thực chất hơn năng lực, phẩm chất của HS.

Việc dạy Ngữ văn hiện nay đã tích cực hóa hoạt động người học, chú trọng dạy phương pháp học, cách học, gồm có cách đọc – hiểu, cách viết, cách nói – nghe hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học một cách sâu sắc, toàn diện. Tiết học vì thế cũng trở nên thú vị, nối gần trang đời với trang sách, không còn chuyện nhồi nhét kiến thức để chăm chăm vào việc thi cử mà chủ yếu là hướng dẫn phương pháp để HS tự mình tiếp cận, giải quyết vấn đề.

3.

Việc kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn là vấn đề được quan tâm rất lớn từ xã hội. Hiện nay, theo chỉ đạo từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn phải hướng đến “đánh giá chính xác năng lực học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn”. Các ngữ liệu, văn bản đưa vào đề kiểm tra sẽ là những ngữ liệu, văn bản hoàn toàn mới đối với học sinh (chưa được giảng dạy trong nhà trường). Đây là một bước chuyển mình rất lớn đối với bộ môn Ngữ văn nói riêng và đối với giáo dục nói chung về kiểm tra đánh giá. Theo cô giáo Tôn Nữ Quỳnh My – chuyên viên bộ môn Ngữ văn, Sở Giáo dục Đào tạo Thành phố Huế thì “để theo kịp được bước chuyển mình này, giáo viên Ngữ văn cần nhận thức rõ định hướng dạy học phát triển năng lực cho học sinh. Đích đến của từng tiết dạy không chỉ là nội dung mà phải là năng lực. Học sinh cần phải được trang bị các kiến thức có tính chất khái quát (như mã thể loại, đặc trưng các kiểu loại văn bản); phải được rèn luyện cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc và viết. Từ đó hình thành được năng lực tự đọc, tự cảm nhận, biết nhận diện, phân tích, đánh giá… văn bản mới theo đặc trưng thể loại; biết mạnh dạn nói lên tiếng nói của chính mình. Đây vừa là thách thức vừa là cơ hội để bộ môn Ngữ văn trong nhà trường có được sự tươi mới và trở nên gần gũi, thiết thực, gần hơn với đời sống. Người giáo viên cũng cần tự đổi mới chính tư duy đánh giá của mình, phải biết thực sự lắng nghe và thấu hiểu đối với mỗi “tiếng nói” của học sinh, phải nhận ra được hạt nhân hợp lí trong những “tiếng nói” ấy để đánh giá phù hợp, thỏa đáng. Cần tránh sự áp đặt theo chủ quan của cá nhân người thầy. Tất cả phải hướng đến cách đánh giá khách quan, tôn trọng ý kiến cá nhân và đảm bảo sự phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật”.

Thầy Hồ Tấn Nguyên Minh, tổ trưởng tổ Văn trường THPT chuyên Lương Văn Chánh (Đắk Lắk): Với chương trình mới, việc dạy và học bộ môn Ngữ văn trở nên thiết thực và có ý nghĩa. Giáo viên trở thành người đồng hành, định hướng cho học sinh trên hành trình chiếm lĩnh tri thức. Vai trò chủ động được trao gửi cho người học. Từ đó, phát huy tính sáng tạo, khơi gợi hứng thú – say mê cho HS trong mỗi giờ lên lớp. Bên cạnh đó, hoạt động dạy học Ngữ văn THPT ngày càng trở nên khoa học, hướng tới tính tích hợp cao. Kiến thức vì thế không trở nên rời rạc mà có sự thống nhất, liên kết, bổ trợ cho nhau. Qua việc kết nối giữa các văn bản đọc hiểu, thực hành đọc hiểu, thực hành tiếng Việt, viết, nói và nghe ở các bài học, HS có cơ hội được lĩnh hội và vận dụng các tri thức Ngữ văn một cách thành thạo. Đáp ứng tốt yêu cầu phân hóa theo năng lực, sở trường qua nội dung và các chuyên đề học tập. Việc kiểm tra, đánh giá của môn Ngữ văn THPT cũng có nhiều chuyển biến tích cực. HS được bộc lộ phẩm chất, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học và những suy nghĩ của bản thân. Nhờ hệ thống bảng kiểm, tiêu chí đánh giá, hướng dẫn thực hành được thiết kế chi tiết, cụ thể mà người học có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm hoặc xây đắp những định hướng đúng đắn cho việc phát triển các kĩ năng cho chính mình”.

TRẦN VĂN TOẢN
(Tổ trưởng Tổ Văn Trường THPT chuyên Quốc Học Huế)

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Thương nhớ nhà cũ

Tôi đứng giữa khoảng sân đất đỏ lốm đốm theo dấu mòn năm tháng, nhìn mái nhà lợp tôn đã cũ, lòng bỗng run rẩy như vừa chạm vào một miền ký ức tưởng đã ngủ yên…

Phác thảo đàn bà

Người đàn bà đã từng biết buông tay
Đã từng xoay trước sau, sau trước
Đêm tối trời đã từng hụt bước
Lòng mở ra khi khép mắt môi mình.