Một cánh chuồn hửng lửa đến bao la

(VNGL – Thơ và lời bình). Có một núi đổ bóng trên những trang thơ của Lữ Hồng từ thời Ô cửa vẫn sáng đèn (NXB Hội Nhà văn, 2023), hiện diện với những gọi, hẹn, đi tìm, mơ… Núi vẫn núi âm thầm/ gọi ta vào những câu thơ mê sảng (Đêm), Người đã hẹn đi về phía núi (Đá núi), Tôi nhớ những mùa thu giòn giã ánh nhìn/ mặt trời mơ về núi (Mùa thu trắng)… như thể còn một khoảng cách, một xa xôi chưa chạm tới, dù nhà thơ ở ngay bên núi, trong lòng phố núi Pleiku. Cái người tri giác là sự hiện hữu của núi, nhưng núi vẫn nghìn trùng. Lần này, với Lời núi rỗng, Lữ Hồng đã nghe được lời núi, như một bước tiến gần hơn đến cái vô biên.

Người vẫn quen nói về phố núi như một định danh, núi như một thực thể, từ lâu trở thành một đặc trưng của phố, không tách rời Phố núi cao phố núi đầy sương. Ngay cả trong thơ Lữ Hồng, cô cũng từng khẳng định: Phố và núi cứ ở bên nhau/ ôm nỗi nhớ suốt đời không di tản (Phố núi của chúng mình), thành phố nghiêng về phía núi (Thênh thang). Nhưng thật ra, người vẫn sống với phố nhiều hơn với núi. Phố là không gian đời, với nhịp sống, con người, bàn chân đi về tha thiết, mà cũng quẩn quanh chật chội, và cô đơn. Một cách vô thức, thơ Hồng như một ô cửa mở ra đời phố tha thiết xanh, nhưng vẫn man mác những nỗi lạc, lẻ, trầm, buồn, người dưng… nói lên nỗi cô đơn của chính cô: phố khuya sớm còn bao điều chưa nói (Thì thầm), phố xá tìm nhau thêm lạc (Hay em đã vội vàng), ta lạc mất một dáng ngồi trên phố (Lời mưa), lẻ bóng thị thành (Tự khúc), Thành phố trầm hơn nỗi buồn/ không ai muốn giấu mình/ nhưng cánh cửa nào cũng khép (Có một ngày như thế), Ở phố lắm người dưng (Những giọt đắng cuối ngày). Vậy nên, vẫn nghe tiếng gọi từ một không gian khác, một núi, ở đây, mà không ở đây.

Núi rỗng ngực giữa trời
nhẫn một đời không cần kinh sách
chiều biết im lặng cho hoa

dấu chân nào cũng thương đá sỏi

Núi khởi đầu với trạng thái rỗng rang, không giấu che, cái rỗng khởi nguyên để có thể dung chứa bao điều, tồn tại trong sự nhẫn một đời. Không phải ngẫu nhiên mà người xưa nói nhân giả nhạo sơn. Người nhân tĩnh, yêu thích núi trong sự tĩnh tại đứng giữa đất trời. Không cần kinh sách, bởi kinh sách đầy, đôi khi lại thành gánh nặng, buộc người vào chấp trước. Rỗng, lặng để biết. Từ đó dung chứa những nhỏ nhoi của hoa, biết thương đá sỏi. Thế giới của cái đẹp và lòng từ lên ngôi khởi từ sự rỗng của núi.

Những cánh hoa dạt đến hoàng hôn
nhắc người đừng như con tàu vào ga 
mới biết mình đã chệch
đừng sắm vai cánh diều
bọn trẻ không thả gì về quá khứ

gió rối những đường bay

Soi vào tự nhiên, trong lặng im của núi, người nghe ra bao điều. Lữ Hồng đối lập tự nhiên với cõi người, với những chệch, sắm vai, rối, với lời nhắc bọn trẻ không thả gì về quá khứ. Thế giới nhân vi đầy những hư ngụy, chi bằng về với núi tìm lại cái ban sơ Một lần ngấm cỏ dại – nghe đất tự tỏa thơm – sự thật giữ mình bằng chôn giấu. Hồng dùng từ “ngấm” mà không phải nghe, thấy với tâm thế quan sát, đứng ngoài. Ngấm là trạng thái chuyển hóa trọn vẹn các cảm giác, để cỏ xuyên qua mình, để say tận cái diệu kỳ của cỏ, xuyên qua cái bề ngoài, mà chạm tới sự thật. Và đất, tự tỏa thơm, như một dạng lời, liệu bạn có nghe thấy?

Hồng nghe ra tiếng núi, lời cỏ, giọng đất, nhưng cô không bước hẳn vào thế giới ấy. Thơ Hồng vẫn ở bên này của nhân sinh, với nỗi đời trong đục, cô đơn khi đối diện với chính mình. Vì vậy, khi về với tự nhiên, lòng cô vẫn đầy những tự vấn đến quay quắt: Người đã khơi trong – ta giờ gạn đục – cười say mê mà khóc cũng say mê. Về với tự nhiên, là đối diện, phản tư, nhìn ra bản chất đời sống, nhận ra người, và quan trọng hơn, là nhìn sâu vào bên trong, gạn đục trong tâm hồn, sống đến tột cùng thành thật cảm xúc, say mê với từng nỗi khóc cười.

Chiều thành tượng nghe lời núi rỗng

một cánh chuồn hửng lửa đến bao la.

Sau khi đối diện với tự ngã, cái nhìn của nhà thơ một lần nữa phóng chiếu ra ngoài, trong nỗi lặng câm: thành tượng. Câu thơ cuối hửng lên một ngọn lửa cánh chuồn, nhỏ bé mà phóng chiếu sức mạnh nội tại hửng lửa đến bao la. Hửng, chứ không phải thắp. Hửng là trạng thái sáng lên, như thể trời hửng sau mưa, hửng đến được sau những khóc cười đã trải. Nhỏ bé như cánh chuồn mà thắp lên ngọn lửa rộng lớn, như thể cháy loang chiều. Có sự chiếu ứng nào cho sức mạnh nội tâm của nhà thơ ấy, trong sự mong manh cháy đến hết mình, như thể cánh chuồn kia.

Lời núi rỗng

LỮ HỒNG

Núi rỗng ngực giữa trời
nhẫn một đời không cần kinh sách
chiều biết im lặng cho hoa

dấu chân nào cũng thương đá sỏi

Những cánh hoa dạt đến hoàng hôn
nhắc người đừng như con tàu vào ga mới biết mình đã chệch
đừng sắm vai cánh diều
bọn trẻ không thả gì về quá khứ

gió rối những đường bay

Một lần ngấm cỏ dại
nghe đất tự tỏa thơm

sự thật giữ mình bằng chôn giấu

Người đã khơi trong
ta giờ gạn đục

cười say mê mà khóc cũng say mê

Chiều thành tượng nghe lời núi rỗng
một cánh chuồn hửng lửa đến bao la.
(Tạp chí Sông Hương số đặc biệt tháng 12.2025, tr.21)

DUYÊN AN

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bông trang đỏ – hương thơm từ kỷ niệm

“Bông trang đỏ” là tập truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Đặng Thùy Trang, ra mắt vào cuối năm 2025. Gồm mười ba truyện ngắn, cuốn sách mở ra một thế giới giàu cảm xúc…

Nhịp vó không hóa đá

Trong một số tác phẩm, ngựa xuất hiện trong bối cảnh nghi lễ. Ở Trà Kiệu, ngựa đi cùng đoàn người của hoàng tử Rama trong trích đoạn Ramayana…

Màu của văn hóa

Không cụ thể một định danh, tên sách chỉ khơi gợi. Bìa sách ẩn hiện một chóe rượu, men gốm quen thuộc sắc độ trầm…