Thì thầm tiếng quê trong “Chuyện của làng”

(VNGL – Đọc sách). Chuyện của làng (NXB Hội Nhà văn) là tập thơ mới nhất của nhà thơ Vĩnh Tuy vừa ra mắt bạn đọc cuối năm 2025. Ngay từ nhan đề, tập thơ đã gợi lên một không gian thân thuộc, nơi những câu chuyện nhỏ bé của đời sống quê nhà được nâng niu và cất giữ. Thơ Vĩnh Tuy không tìm đến những đề tài lớn lao hay những thử nghiệm hình thức cầu kỳ, anh lặng lẽ trở về với cội nguồn bằng những câu lục bát mộc mạc. Trong mạch cảm xúc ấy, làng quê trở thành một “căn cước tinh thần”, là nơi nâng níu tình làng nghĩa xóm, sưởi ấm mái nhà gia đình, lưu giữ bóng dáng mẹ hiền và chở che những bình yên của miền xứ Hoài thấm đẫm phù sa ký ức.

Trong tập thơ này, anh nhắc nhiều về tên quê, tên làng, về dòng sông, nẻo về cố xứ, cụ thể và gụi gần những Giếng Truông, dòng An Lão, sông Kim Sơn, Hoài Ân, Hoài Nhơn, xứ Hoài… Và quê nhà, không gian nơi anh gắn bó, được khắc họa bằng những nét bình yên: Tháng Ba nắng đã lên rồi/ làng tôi nép dưới triền đồi nhấp nhô (Chuyện của làng). Từ không gian ấy, những “tọa độ” quen thuộc của làng quê dần hiện ra trong những vần thơ giản dị. Một trong những hình ảnh giàu sức gợi trong tập thơ là giếng làng, biểu tượng của ký ức cộng đồng. Trong bài Giếng làng, nhà thơ viết: Giếng làng/ gặp gỡ, nhớ, mong/ để rồi chờ đợi, người không trở về!// Phía xa văng vẳng tiếng gà/ giật mình, cứ ngỡ mình và ngày xưa. Âm thanh “văng vẳng tiếng gà” như một tín hiệu đánh thức ký ức, gọi dậy “ngày xưa”. Trong khoảnh khắc ấy, tác giả như gặp lại chính mình của quá khứ, tạo nên một cuộc gặp gỡ/ đối thoại trong tâm tưởng, để nâng niu mạch ngầm ký ức gắn chặt, không thể tách rời của đời sống tinh thần người quê.

Nếu giếng làng là nơi neo giữ ký ức, thì con sông quê lại là nơi nhà thơ tìm thấy sự an nhiên của tâm hồn. Trong bài Bên sông Lại, Vĩnh Tuy viết: Ta về/ ngồi giữa mây bay/ bên dòng sông Lại một ngày tháng Ba// Tràn ly/ ta rót mời ta/ nước sông ngọt lịm, thế mà cũng say! Khung cảnh thật đơn sơ với một ngày tháng Ba, mây bay, dòng sông lặng lẽ… Nhưng trong sự giản dị ấy lại ẩn chứa niềm hạnh phúc của người trở về cố xứ. Câu thơ “ta rót mời ta” mang một nét thú vị. Đó là cuộc đối thoại của con người với chính mình. Không cần rượu, chỉ cần “nước sông ngọt lịm” cũng đủ khiến lòng đắm say. Cái “say” ở đây không phải say men rượu, mà là say quê hương, say ký ức, say cảm giác được hòa vào không gian thân thuộc của bình an quê nhà.

Điểm đáng chú ý trong Chuyện của làng là hình ảnh mẹ xuất hiện nhiều lần và luôn gợi xúc động. Đó không phải là hình ảnh mang tính biểu tượng xa vời, mà là một người mẹ cụ thể với những nhọc nhằn của đời sống. Bài thơ Mẹ tập đi khiến người đọc chùng lòng: Ngày nằm xuống, đêm ngồi lên/ thời gian của mẹ cứ mênh mông dài// Tập đi cho mẹ/ một… hai…!/ vòng quanh thế giới/ chỉ vài bước chân. Thế giới của mẹ giờ đây thu nhỏ lại trong vài bước đi chậm chạp. Nhưng trong cái vòng tròn nhỏ bé ấy lại chứa đựng cả một đời hy sinh. Ở một bài thơ khác, nỗi niềm về người mẹ góa bụa càng trở nên thấm thía: Con hiểu rồi. Mẹ ơi!/ Nhọc nhằn đời góa bụa/ Mỏng manh như cây lúa/ Giữa cuộc đời bão giông!// Mẹ có nghe gì không/ Ngoài kia xuân về đó/ Lời thầm thì của gió/ Nhà còn mẹ. Tết vui! (Nhà còn mẹ Tết vui). Với nhà thơ, sự hiện diện của mẹ chính là niềm hạnh phúc lớn nhất của gia đình. Khi còn mẹ, mái nhà vẫn còn chan chứa niềm vui, sự ấm áp ngọt lành. Và mẹ, cũng là “thế giới tinh thần” của đứa con mãi hoài bé bỏng.

Bên cạnh những bài thơ giàu tính ký ức, Chuyện của làng còn chứa đựng nhiều suy tư về đời sống hiện đại, nơi con người đôi khi lạc mất chính mình giữa những vòng quay tất bật và những toan tính nhỏ hẹp. Trong bài Bâng khuâng giữa cơn mưa chiều, tác giả viết: Bao năm/ mòn vẹt bàn chân/ tìm xa rồi lại tìm gần. Tìm chi?/ để rồi trên những lối đi/ bước chân ta lại thầm thì với ta// Phố quen/ biết mấy lần qua// mà không tìm được hiên nhà trú mưa// Hiểu rồi/ mình của ngày xưa/ đã là quá khứ nên thừa. Vậy thôi! Những câu thơ như một lời tự vấn. Con người đi tìm nhiều thứ trong đời. Danh vọng, thành công, hay những giấc mơ xa xôi… để rồi nhận ra rằng cái mình tìm kiếm có khi đã nằm lại trong quá khứ, chỉ còn nỗi trống vắng, lưu lạc trong chính những lập trình của nhịp sống thị thành.

Ở những tứ thơ khác, nhà thơ Vĩnh Tuy có những suy nghiệm thú vị, vừa như “chắt” ra từ muôn sắc đời sống, vừa thấm đau trong sự thức ngộ muộn mằn: Này là một chén nhân – chia/ chia nhà, chia đất, chia lìa anh em/ cuối đời đọc lại mình xem/ đến hơi thở chót lại thèm phép nhân (Uống rượu ngày mưa). Lòng tham, sự ích kỷ, những hẹp lòng cạn nghĩ là thứ dễ tạo ra những nứt rạn. Đến khi, con người ta sắp cạn quỹ thời gian trần thế, mới nhận ra giá trị thực thụ của sự gắn kết, yêu thương, đoàn tụ. Nhưng thử hỏi, sự chân nhận muộn màng kia, có cứu rỗi được những đổ vỡ đã từng?

Gánh, gánh về. Ảnh: Đỗ Văn Đông

Lắng lại trong Chuyện của làng của Vĩnh Tuy, ta nhận ra đây không chỉ là câu chuyện của riêng một miền quê hay một cá nhân, mà đó còn là câu chuyện chung của nhiều người Việt, những con người dù đi xa đến đâu vẫn mang trong lòng ký ức về làng quê. Làng trong thơ Vĩnh Tuy vì thế trở thành một “căn cước tâm hồn”, nhắc con người nhớ về nguồn cội, về gia đình, về những giá trị bền vững của đời sống.

Trước Chuyện của làng, Vĩnh Tuy đã lần lượt ra mắt bạn đọc hai tập thơ Đi dọc sông quê (2016) và Tôi đi tìm tôi (2019). Dõi theo hành trình sáng tác của anh, dễ nhận ra một mạch nguồn quê nhà luôn âm thầm neo chặt. Cái “chất quê” ấy không chỉ là cảm hứng, mà dường như đã trở thành phần tâm lõi trong thế giới thơ Vĩnh Tuy. Dĩ nhiên, trong tập thơ này của anh, vẫn còn những câu chữ chưa thật tròn ý, đôi chỗ hình ảnh và ngôn ngữ còn mang dáng vẻ quen cũ. Nhưng vượt lên trên những giới hạn ấy, điều đáng quý ở Chuyện của làng chính là sự đặt để tình cảm chân thành của tác giả vào từng trang viết. Chính sự hồn hậu ấy khiến người đọc có cảm giác như đang nghe một câu chuyện được kể chậm rãi bên hiên nhà, nơi mà quá khứ và hiện tại lặng lẽ gặp nhau, trong một nỗi thương nhớ dịu dàng…

BẢO NHI

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Một cánh chuồn hửng lửa đến bao la

Soi vào tự nhiên, trong lặng im của núi, người nghe ra bao điều. Lữ Hồng đối lập tự nhiên với cõi người, với những chệch, sắm vai, rối, với lời nhắc bọn trẻ không thả gì về quá khứ…