(VNGL – Truyện ngắn). Mặt trời đã lặn khá lâu nhưng hơi nóng vẫn còn âm ỉ bốc lên từ lớp đá lởm chởm dưới đường ray. Tôi bước trở về nhà sau một ngày dài mệt mỏi. Vẫn thấy cha tôi ngồi đó. Ông tựa lưng vào vách ngoài của căn chòi vốn được cải tạo lại từ chuồng bò cũ, nhìn ra đường sắt. Từ ngày giá bò tụt dốc thê thảm, nhắm không kham nổi số nợ ngân hàng ngày càng lớn nên tôi buộc phải bán tháo đàn bò, khiến cha tôi không vui vẻ. Mối quan hệ giữa cha con tôi vừa mới được cải thiện đôi chút kể từ khi ông nghỉ hưu cũng vì vậy mà trở nên xấu đi. Nhàn rỗi. Cha tôi không có việc gì làm ngoài quanh quẩn ở nhà bên con gà, luống rau và chiều nào cha tôi cũng ra cái ghế cạnh chuồng bò ngồi. Có lẽ cha tôi lại nhớ đoạn đường ray dài hơn chục cây số ông đã đi mỗi ngày trong suốt hơn ba mươi năm ròng rã? Tôi lướt ngang qua cha, định bụng gọi ông trở vào nhà cho đỡ muỗi nhưng thấy khuôn mặt cau có của ông nên cũng không dám mở lời.
– Mai mày có đi tuần?
– Có.
– Mua dùm tao ít hoa quả với bó nhang thắp cho cô Xuyến. Mai mười sáu…
Cha tôi định nói gì thêm nhưng rồi lại bỏ giữa chừng khiến căn nhà càng thêm im ắng. Mà căn nhà này đã bao giờ ồn ào trừ khi những lúc có đoàn tàu lửa nào đó chạy qua.
Cha tôi vốn là tuần đường sắt nên mọi người vẫn thường gọi ông bằng cái tên Sơn “tuần đường” để phân biệt với Sơn “cụt” hay Sơn “kiểm lâm”, những người có cùng tên với cha tôi ở khu vực gần nhà ga này. Từ khi tôi có trí khôn đã thấy cha tôi khoác lên vai mình chiếc túi vải, bên trong có đựng cờ lê, mỏ lếch, ốc vít, đèn pin, quả pháo, nhật ký chạy tàu… bước ra khỏi nhà vào buổi sáng hay tối tùy theo ca trực. Ông sẽ bắt đầu công việc của mình từ nhà ga, đi bộ dọc theo tuyến đường ray xe lửa kiểm tra từng chiếc bu lông, đai ốc, từng thanh tà vẹt để kịp thời khắc phục. Ngày nắng cũng như ngày mưa và công việc của cha tôi vẫn cứ đều đặn như thế để cuối tháng đưa về nhà một khoản tiền đủ để hai cha con tôi trang trải.
Hồi nhỏ, tôi luôn tự đặt câu hỏi có phải vì tính chất công việc đòi hỏi kỹ lưỡng hay không mà cha tôi trở nên cộc cằn, khó tính. Mọi thứ tôi làm đều không nhận được sự hài lòng của ông. Cha tôi chưa từng nở nụ cười với tôi chứ nói gì đến việc khen tôi, bế tôi hay ôm lấy tôi như những người cha khác. Tôi có thật sự là con của cha hay là một kẻ xa lạ được đặt nhầm vào ngôi nhà này. Còn mẹ tôi là ai, mà không khi nào nghe cha nhắc tới. Nhiều lần, tôi định hỏi. Nhưng mỗi khi câu hỏi sắp bật ra khỏi miệng, nhìn thấy ánh mắt của ông, tôi lại thôi. Tôi im lặng, chịu đựng và mỗi khi ai đó hỏi về việc theo nghề tuần đường của cha, tôi lại khó chịu. Trong suy nghĩ của tôi thì chính cái nghề tuần đường này đã làm cho cha tôi thành ra như thế. Không! Tôi sẽ không bao giờ nối nghiệp cha. Tôi sẽ kiếm một công việc khác để làm, không phải bám theo cung đường sắt âm u, rậm rạp, đầy muỗi vắt. Và rồi tôi sẽ đối xử với các con tôi khác cách mà cha tôi đối xử với tôi.
Thực ra cha tôi cũng không hoàn toàn lạnh nhạt với tôi, chí ít trong mỗi tháng có một ngày ông trở nên nhẹ nhàng nhất có thể. Ngày mười sáu. Mấy mươi năm ròng rã, tôi chưa bao giờ thấy cha tôi quên ngày đó. Ông chuẩn bị một ít bánh trái, nhang đèn và chờ lúc đi tuần sẽ mang theo viếng mộ cô Xuyến. Ánh mắt ông khi nhìn tôi cũng trở nên ấm áp hơn lúc bình thường.
Nghe kể cô Xuyến là một người đàn bà đẹp, mất khi còn khá trẻ trong một tai nạn tàu lửa nên được người dân chôn cất luôn tại chỗ, cạnh nút giao giữa đường sắt và con đường tự mở của cánh thợ rừng khi trước. Ngôi mộ khá sơ sài được đắp bằng đất, bên trên phủ một lớp đá ba lát, loại đá dùng để trải đường ray. Bên trên nữa là một lớp hoa đường tàu rất dày phủ kín lấy ngôi mộ, không cho cỏ dại chen vào. Người ta đồn rằng mộ cô Xuyến rất thiêng. Đó là khi những chiếc xe máy cày, xe cải tiến chở gỗ đi ngang qua đây ban đêm vẫn thường hay tắt máy. Nhưng khi người ta xuống thắp nhang khấn cô Xuyến thì xe lại nổ máy bình thường. Rồi những đêm mười sáu, dưới ánh trăng mờ tỏ lại thấy một bóng áo trắng lượn lờ trên đoạn đường ray, gần ngôi mộ. Một đồn mười, mười đồn trăm và ai cũng ngại đi qua nơi này vào buổi tối. Chỉ riêng cha tôi là ngoại lệ. Hàng đêm, ông vẫn đi tuần ngang qua. Cha tôi có nhìn thấy gì hay không chỉ riêng mình ông biết.
***
Tám giờ tối. Tôi khoác lên vai chiếc túi vải giống như cha tôi ngày trước bắt đầu cho một đêm làm “bác sĩ khám bệnh đường ray xe lửa”. Từng ghét cay ghét đắng cái nghề này nhưng rồi cuối cùng tôi không thoát khỏi trò đùa của số phận để nối nghiệp cha. Cũng chẳng phải yêu thích hay vì lý tưởng cao cả gì hết. Tôi ra trường, xin việc mãi ở thành phố không được nên buộc lòng phải về quê. Xoay sở qua nhiều công việc, từ phụ hồ, sửa điện, chăn nuôi… nhưng chả đâu vào đâu, tôi đành xin một chân vào ngành đường sắt. Trải qua một khóa huấn luyện, tôi được cấp chứng chỉ và bố trí công việc tuần đường.
– Ê Tuấn. Đi tuần hả mày?
Tôi quay qua nhìn. Thì ra là thằng Thái, đứa bạn chơi chung với tôi từ khi tóc còn để chỏm. Mỗi khi gặp nó, tôi lại nghĩ tới vết sẹo trên lưng mình. Đó là chuyện khi chúng tôi mới chín, mười tuổi thường hay rủ nhau lên đường sắt trước nhà. Mà ở xứ này, những đứa trẻ như chúng tôi hồi đó ngoài việc chơi với đường sắt thì còn thú vui gì nữa. Một lần, nó rủ tôi chơi trò “nổ pháo”, tức là xếp những viên đá ba lát mỏng lên thanh ray để chờ tàu lửa. Khi bánh xe lửa cán ngang qua sẽ tạo thành những tiếng nổ “độp độp” như pháo. Nhưng tôi còn chưa kịp nghe tiếng pháo thì cha tôi đi tuần ngang qua bắt gặp. Ông lôi tôi về, bắt tôi nằm trên cái phản mà quất đến nát mông. Một mảnh từ cây roi tre của cha bị tét ra, bén ngọt, cắt vào lưng đến giờ vẫn còn vết sẹo. Sau lần đó, tôi không còn dám nghịch dại nữa. Tôi sợ cái roi trên tay cha, sợ trận đòn thừa chết thiếu sống của ông hơn là nghĩ đến an toàn của đường sắt, đến tính mạng của những con người đang trên chuyến tàu xuôi ngược.
– Ừ. Tôi trả lời nó.
– Nay mười sáu đó mày.
– Rồi sao?
– Thì… thì… cô Xuyến…
Đến lúc đó tôi sực nhớ ra mình mới đi làm chưa đầy nửa tháng và đây là lần đầu tiên tôi phải tuần đường ban đêm. Một luồng hơi lạnh chạy từ dưới chân lên tới đỉnh đầu khiến tôi rùng mình nhưng vẫn đáp cứng:
– Ma cỏ gì mày? Vớ va vớ vẩn.
Không muốn nghe nó nói gì thêm, tôi nhanh chân rảo bước lên đường sắt. Tiếng côn trùng rả rích. Tiếng gió thổi sột soạt qua hàng lau sậy cao quá đầu người dọc theo đường ray. Trăng đang treo trước mặt. Nhưng ánh sáng mờ ảo của ánh trăng chỉ càng khiến tâm tôi thêm bất ổn.
Xong cây số đầu. Chiếc cờ lê trong túi vải chưa một lần tôi phải lấy ra, đồng nghĩa với việc không có một con ốc nào trên đường ray bị lỏng, ngoại trừ vài lần tôi phải cúi xuống nhặt vài thứ mắc kẹt giữa thanh ray đảm bảo an toàn cho tàu chạy.
Thêm cây số tiếp theo. Bước chân bắt đầu nặng nhọc. Tôi xốc lại cái túi vải trên vai đang dần trể xuống. Lại nghĩ đến cha tôi. Ông đã một mình đi trên đoạn đường ray này suốt hơn ba mươi năm, với chiều dài hơn hai vòng trái đất bất kể trời nắng hay mưa, mới thấy ông thật bền bỉ và dẻo dai. Nhưng giờ có tuổi nên mỗi khi trời lạnh ông hay đau nhức. Cha tôi có thể gắn bó lâu dài với cái nghề này vì yêu, còn tôi thì không. Rồi đây tôi cũng sẽ tìm một công việc khác để làm.

Vài cây số cuối. Mồ hôi trên trán tôi bắt đầu tuôn ra lấm tấm. Hơi thở nặng nhọc. Bước chân tôi chậm dần. Phần vì mệt, phần vì sắp đến mộ cô Xuyến làm tôi hơi run. Một bóng đen lao nhanh qua đường sắt khiến tôi giật mình. Lúc định thần lại, tôi nghĩ chắc là một con chồn. Ở đoạn đường sắt vắng vẻ này, người ta vẫn thường hay gặp chồn, nhím, rùa, thậm chí là heo rừng băng ngang. Tôi hít một hơi thật dài như muốn lấy hết can đảm để tiếp tục bước đi. Chỉ còn một đoạn nữa thôi tôi sẽ nhìn thấy người. Anh bạn tuần đường của nhà ga bên cạnh đang chờ tôi để đổi thẻ và ký tên vào sổ đi tuần. Vái trời cho vía tôi nặng không nhìn thấy… ma.
***
Cái bóng đèn ngủ tỏa thứ ánh sáng màu vàng nhạt không làm cho đêm bớt cô quạnh. Tôi hết nhìn lên trần nhà lại nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi có mấy bụi hải đường đang phất phơ theo gió. Trời sắp đổ mưa. Nếu mà đi tuần giờ này thì hơi mệt, tôi nghĩ.
Có tiếng động kèm theo tiếng ho khục khặc chỗ cha tôi nằm. Hình như ông tính ngồi dậy, tôi lật đật quay mặt lại nhìn, xem thử ông có cần giúp gì không?
Mấy ngày nay cha tôi bị ốm. Tôi buộc lòng phải nhờ người đổi ca trực vài hôm. Đó là lý do đêm nay tôi có mặt ở nhà. Đi khám, bác sĩ bảo cha tôi bị hội chứng rối loạn lo âu hoang tưởng sau khi xem xét các dấu hiệu lâm sàng như: lo lắng, sợ sệt, thường xuyên mất ngủ, giật mình ú ở lúc nửa đêm,… vân vân. Nguyên nhân có thể là do cha tôi ám ảnh chuyện gì kinh hãi trong quá khứ khiến tâm lý bị tổn thương. Càng có tuổi, mức độ tổn thương càng nặng. Và liệu pháp tinh thần được bác sĩ khuyến khích bên cạnh việc kê thuốc an thần. Tôi phải trò chuyện, quan tâm ông nhiều hơn. Nhưng nghĩ tới mối quan hệ trước giờ của hai cha con, tôi chỉ biết thở dài.
Thấy cha tôi sắp mở cửa bước ra ngoài, tôi lên tiếng:
– Sao cha không ngủ đi mà ra đó làm gì cho gió? Trời sắp mưa rồi.
– Mày ngủ đi. Tao ra đây tí rồi vào. À, mà sắp tới mười sáu rồi đó.
Tôi hiểu cha tôi muốn nói gì, không thể chờ thêm được nữa, tôi hỏi:
– Sao mười sáu nào cha cũng cúng mộ cô Xuyến?
– Mày không nên biết thì tốt hơn. Thôi ngủ đi.
Bệnh tình của cha tôi càng lúc càng nặng. Đêm nào cha cũng mở cửa đi ra ngoài như người mắc bệnh mộng du. Nhưng cũng không thể mãi ở nhà để canh chừng cha được, tôi còn phải đi tuần.
Bây giờ đang độ giữa mùa mưa. Những cơn mưa kéo dài từ ngày này qua ngày khác khiến đất đá trên những ngọn đồi dễ sạt lở xuống đường ray bất cứ lúc nào. Bởi vậy để đảm bảo an toàn cho tàu chạy, chúng tôi càng không dám lơ là. Chuẩn bị những đồ dùng cần thiết, khoác áo mưa lên người, tôi ngoái đầu nhìn cha lần nữa, rồi mới yên tâm đóng cửa bước ra khỏi nhà.
Tôi bước lên đường ray, đèn pin quét một vệt sáng yếu ớt qua màn mưa giăng kín. Nước mưa tạt vào mặt rát buốt nhưng bước chân tôi vẫn phải nhanh hơn khi đồng hồ điểm hơn mười giờ đêm.
Đang soi đèn kiểm tra từng thanh tà vẹt, tôi đột ngột khựng lại. Ngay tại nút giao gần mộ cô Xuyến, một vạt đá ba lát bị nước mưa sạt lở nặng, khiến một đoạn ray dài bị hẫng, sụt sâu xuống hố. Chỉ mươi phút nữa thôi, đoàn tàu sẽ lao đến đây.
Tôi luống cuống tháo túi vải, rút ra quả pháo hiệu đường sắt. Đúng lúc đó, một bóng người xuất hiện từ phía xa, cùng tiếng ho khục khặc quen thuộc.
Cha. Tôi giật thót người.
Tiếng còi tàu từ đằng xa vang lên xé tan màn đêm. Ánh đèn pha của đầu máy xe lửa quét qua, lao đến như một con quái vật sắt khổng lồ.
– Cha. Tránh ra. Tàu đến kìa!
Tôi gào lên, âm thanh chìm lấp trong tiếng gió rít và tiếng mưa rơi.
Cha tôi vẫn đứng chết trân giữa hai thanh ray, đôi mắt dại đi vì hoảng loạn, hai tay giơ lên như muốn chặn quả núi thép đang lao tới. Không kịp suy nghĩ, tôi lao tới dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh cha văng ra khỏi đường ray. Nhưng đà lao quá mạnh khiến cả hai cha con cùng lăn ngã xuống lớp đá ba lát lởm chởm. Đúng lúc đó, tôi đặt kịp quả pháo hiệu xuống thanh ray trước khi thân tàu chèn qua.
Đùng! Tiếng nổ vang lên chói tai. Bánh xe tàu lửa nghiến mạnh trên thanh ray, tạo ra những tia lửa điện bắn tung tóe trong đêm tối. Tiếng hãm phanh khẩn cấp ken két nhức óc kéo dài hàng trăm mét. Đoàn tàu dừng lại chỉ cách điểm sạt lở một đoạn ngắn nữa.
Tôi nằm vật ra lớp đá, toàn thân đau nhức, máu từ vết sẹo cũ trên lưng lại rỉ ra. Bên cạnh, cha tôi vẫn thở dốc, đôi bàn tay gầy guộc của ông quờ quạng trong đêm rồi bấu chặt lấy vai tôi. Cơn mộng du tan biến, ông trở nên tỉnh táo lạ thường.
- Tuấn… có sao không… con?
Giọng ông run run. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi nghe cha gọi tên mình bằng một giọng ngọt ngào như thế. Hố sâu ngăn cách suốt mấy mươi năm qua giữa hai cha con như được lấp đầy theo tiếng pháo cứu tàu trong đêm mười sáu.
Những ngày sau đó, tôi cố gắng bên cha thật nhiều, và rồi câu chuyện của cha cũng dần hé mở…
***
Quán nhỏ, lợp bằng lá, nằm cạnh con đường do cánh thợ rừng tự mở chỉ lèo tèo dăm ba thứ nhưng lại khá đông khách. Cánh thợ rừng, đám đầu nậu, phu khuân vác vẫn thường vào đây bù khú thâu đêm suốt sáng. Họ đi từng tốp, hết tốp này lại đến tốp khác ghé qua. Một phần do đây là quán duy nhất nằm gần bãi tập kết gỗ, xung quanh không thể nào tìm được quán thứ hai. Một phần vì cô chủ quán xinh đẹp làm những gã đàn ông ăn dầm nằm dề trong rừng đã lâu, thiếu hơi đàn bà muốn ghé. Ai cũng muốn cô chủ quán xinh đẹp kia ngã vào vòng tay mình.
Ngày nhận quyết định điều chuyển về ga này. Sơn đã tính chuyện bỏ nghề. Hai mươi bảy tuổi. Sơn không muốn đến một nơi khỉ ho cò gáy, đầy muỗi và vắt, nhất là những cơn sốt rét khiến người ta rùng mình khiếp sợ. Đó là chưa kể khu vực này đâu đâu cũng toàn rừng rú, lại nằm giáp ranh giữa hai tỉnh nên an ninh rất phức tạp. Nhưng khi nghĩ đến cảnh tìm công việc khác ở thành phố thời buổi này cũng khá khó khăn, Sơn tặc lưỡi: Thôi kệ. Mình cứ ra ngoài đó nếu thấy không ổn thì chuồn.
Về đây chỉ vài hôm Sơn thôi luôn ý định bỏ nghề. Ấy là mỗi lần đi tuần, Sơn sẽ đi ngang quán Xuyến. Lúc đầu chỉ là tạt vào mua chai nước, gói thuốc, dăm ba câu tán gẫu. Dần dà, Sơn ngồi lâu hơn có khi hàng tiếng đồng hồ. Ừ, ở nơi heo hút này tự nhiên xuất hiện một người đàn bà xinh đẹp hỏi ai không thích. Gái một con trông mòn con mắt… đàn ông. Sơn bảo Xuyến giống như hoa lan rừng, mang nét đẹp bí ẩn đến mức làm người ta mê mẩn. Không, em chỉ là loài hoa dại, như hoa xuyến chi mọc ở ven đường ray xe lửa này, Xuyến cãi.
Ba tháng sau, Sơn chính thức trở thành “người nhà” của Xuyến. Những lúc không đi tuần Sơn sẽ ở quán, hết phụ Xuyến vài công việc lặt vặt trong quán, lại tắm rửa chơi đùa với đứa con trai mới lên ba của Xuyến. Cái quán nhỏ có bàn tay đàn ông cũng trở nên tươm tất hơn so với trước. Những gã đàn ông vẫn thường hay ghé quán nhìn Sơn với ánh mắt ganh tị. Người bảo, thằng Sơn “tuần đường” đúng là số hưởng. Mới về đây mấy tháng đã hốt được con Xuyến ngon ơ. Người khác có vẻ rành đời hơn buông câu đầy chiêm nghiệm: Con Xuyến như bông hoa dại. Mà đã là bông hoa dại thì không để ai làm chủ cuộc đời mình. Kẻ khác phụ họa: Đúng. Rồi cũng bỏ thằng Sơn mà chạy theo người đàn ông khác.
Rượu vào lời ra, cả đám đàn ông không ngừng to nhỏ. Sơn ngồi bên trong nghe hết, thấy mặt mình nóng ran.
Những lời nói của đám thợ rừng hôm nọ đã sai, ít ra cho đến khi Phong “mặt thẹo” xuất hiện. Phong mới tới đây chưa đầy nửa tháng nhưng bằng tiền bạc rủng rỉnh cộng với quan hệ của mình, gã nhanh chóng đánh bật đám đầu nậu cũ để trở thành tay buôn gỗ lớn nhất bãi. Phong hay lui tới quán của Xuyến và trực giác của một thằng đàn ông khi nhìn điệu bộ của một thằng đàn ông khác, Sơn biết sắp có chuyện xảy ra.
“Chuyện xảy ra” cũng không cần Sơn phải đợi quá lâu. Một bữa xong ca trực, Sơn ghé quán sớm hơn so với thường lệ. Vừa đẩy cửa bước vào, Sơn thấy Xuyến từ bên trong buồng bước ra, áo quần xộc xệch, đầu tóc rối bù, khuôn mặt hiện lên vẻ sợ hãi. Cơn ghen nổi lên, Sơn chạy ra bên ngoài cửa quán thấy một bóng người đang lững thững bước đi trên đường sắt. Nhìn dáng lưng, Sơn đoán là Phong. Mặc cho những lời thanh minh của Xuyến. Sơn vẫn một mực không tin rằng cô trong sạch. Đêm hôm đó, một trận cãi vã nảy lửa đã xảy ra. Sơn tức giận bỏ về thành phố ngay trong đêm.
Hơn một tuần lễ sau, đã nguôi ngoai Sơn mới qua trở lại ga. Nhưng một tin động trời khiến Sơn rụng rời. Xuyến gặp tai nạn tàu lửa, mất đúng vào cái đêm hai người cãi nhau hôm nọ. Có người kêu, Xuyến buồn tình, nghĩ quẩn nên tìm đến cái chết. Người khác cho là do Xuyến cứu thằng nhỏ con mình. Mà tất cả cũng chỉ là suy đoán chứ thời điểm xảy ra tai nạn cũng không có ai hay.
Sau vụ tai nạn của Xuyến, phần vì sợ ồn ào làm kiểm lâm để ý, phần không còn cái quán của Xuyến nữa nên đám thợ rừng cũng nhanh chóng chuyển bãi tập kết gỗ đến một nơi khác xa hơn. Khu vực này vì thế cũng nhanh chóng trở thành bãi đất hoang và mọi chuyện cũng nhanh chóng chìm xuống. Chỉ riêng bản thân Sơn là không yên ổn. Hàng đêm Sơn vẫn không tài nào chợp mắt. Day dứt. Ám ảnh. Hỏi về tin tức thằng nhỏ con trai Xuyến, Sơn biết tin nó được một người thợ rừng thương tình đón về ở đậu. Vậy là Sơn tìm tới, đón thằng nhỏ về nuôi.
Sơn gắn bó luôn với công việc tuần đường kể từ đó như muốn chuộc lại lỗi lầm của mình bằng việc đảm bảo an toàn cho tàu chạy. Hơn ba mươi năm đi tuần, Sơn cũng đã nhiều lần cứu người khác thoát khỏi tai nạn đường ray nhưng chưa một lần nhận báo đáp, chỉ xem việc này như cách để giải bớt “nghiệp” mình trót đã mang. Điều quan trọng là mỗi lần đi tuần, Sơn có thể ghé qua mộ Xuyến thắp một nén nhang.
***
Cha tôi mất vào một ngày tháng mười khi mùa hoa đường tàu sắp mãn, chỉ còn lác đác. Thay vào đó chúng bắt đầu kết hạt màu nâu xám, có hai móc nhọn nhìn y hệt như những chiếc kim châm. Nó đang chờ gió đưa đi để tiếp tục tái sinh một vòng đời mới, nối tiếp mãi không thôi.
Sau ngày cha tôi mất, lo hậu sự cho ông chu toàn, tôi ra mộ mẹ tôi thắp nhang, xin bà cho tôi được cải táng đưa về nằm cạnh cha tôi. Ở gần nhau, biết đâu họ sẽ dễ dàng hóa giải được vướng mắc để tiếp tục một đoạn tình duyên dang dở ở thế giới bên kia. Còn tôi sẽ tiếp tục với nghề tuần đường như một một phần sứ mệnh của cuộc đời mình. Tôi sẽ tiếp tục nhìn thấy loài hoa có cái tên của mẹ nở dọc đường ray…
QUỐC VIỆT

