(VNGL – Văn học trong nhà trường). Trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại, Văn Cao được biết đến không chỉ là một nhạc sĩ, họa sĩ tài danh mà còn là một thi sĩ đích thực. Đời thơ của ông khiêm nhường về số lượng (chỉ hơn 60 bài) nhưng mỗi bài là một file nén, chất chứa những suy tư thăm thẳm và những khát vọng mênh mông. Đặc biệt, khát vọng tự do và khát vọng sống luôn thường trực trong thơ Văn Cao, nâng đỡ ông đi suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật đầy gian truân, sóng gió.
Khát vọng tự do
Là người được giác ngộ lý tưởng cách mạng nhưng Văn Cao không nói về tự do như một khái niệm trừu tượng mà biến nó thành nguồn cảm hứng mãnh liệt, thành xúc cảm buồn đau hay hạnh phúc trên những trang thơ.
Trong trường ca Những người trên cửa biển, bằng những câu thơ cuồn cuộn như triều dâng sóng dậy, Văn Cao đã bộc lộ nỗi đau nhỏ máu tâm hồn khi chứng kiến cảnh nô lệ, lầm than, tang tóc của quê hương, đồng bào. Một Hải Phòng “xác xơ”, tan hoang, “tối đen như hầm than đá” khi Pháp chiếm, Nhật vào. Một Hà Nội chết chóc với “Cửa ô đau khổ/ Bốn ngả âm u” (Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc). Bởi với ông, mất tự do là “Mất cả mùa xuân mất cả tình yêu/ Mất đôi mắt thật rất nhiều rung cảm”. Càng thấm thía mất mát, người ta càng khao khát tự do. Ông đã mơ về tự do giữa những ngày Hải Phòng nói riêng và đất nước nói chung đang bị kẻ thù chiếm đóng: “Giấc mơ sáng trên ngọn mác/ Giấc mơ làm cánh tôi bay”. Đó không phải là giấc mơ tự do cho cá nhân mà cho cả đất nước. Khát vọng tự do trở thành động lực sống và chiến đấu của cả dân tộc, dẫu phải hy sinh nhiều xương máu cũng chấp nhận, để đổi lấy ngày: “Phục hồi hàng vạn con người/…Cho ngọn lửa nhen trong bếp/…Vang vang tiếng guốc tiếng cười”. Lòng khao khát tự do đã hóa thành niềm hân hoan, hạnh phúc khi đất nước “về tay người thợ”, “hàng vạn con người” đã được hồi sinh.
Là một chiến sĩ cách mạng, đồng thời cũng là một nghệ sĩ tiên phong mở lối cách tân nghệ thuật nên khát vọng tự do của Văn Cao không chỉ dừng lại ở mong mỏi dân tộc mình, đất nước mình thoát khỏi ách áp bức đô hộ. Trong suốt cuộc đời, điều Văn Cao đau đáu nhất là theo đuổi khát vọng tự do cho nghệ thuật. Ông từng tâm sự: “Đời tôi khát vọng nghệ thuật hơn là phải cầm súng”. Ông muốn mở những lối đi mới trong thơ để tới gần hơn cuộc sống bộn bề và phức tạp, sục sôi và nóng bỏng ngoài kia. Ông e ngại môi trường “im lìm” với “những người khôn ngoan/ Không có mồm/ Mắt không bao giờ nhìn thẳng” (Anh có nghe không). Môi trường đó đang giết chết sự sáng tạo, kìm hãm tự do sáng tạo của con người bằng một sức mạnh vô hình. Sức mạnh đó đủ khiến cho người ta rơi tõm vào cảm giác bất an, sợ hãi, hoang mang đến tột cùng ngay trong chính ngôi nhà nghệ thuật của mình: “Một tiếng động khóa/ Xin mời vào/ Cánh cửa mở ra thật rộng/ Chỉ thấy một chiếc cầu thang nhà trên gác/ Và ánh sáng/ Không động đậy/ Một giọt mồ hôi/ Lăn trên trán” (Cánh cửa). Dường như chỉ trong giấc mơ, Văn Cao mới được sống với khát vọng tự do sáng tạo của mình: “Dưới mái nhà/ Một người đang ngủ/ Với giấc mơ của những vì sao/ Những vì sao đang kể chuyện/ Giấc mơ của mái nhà/ Giấc mơ của một người đang ngủ” (Giấc mơ). Sự “cởi trói” trong văn học nghệ thuật từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã giải phóng sức sáng tạo cho rất nhiều văn nghệ sĩ. Riêng Văn Cao, suốt con đường sáng tạo nghệ thuật đầy sóng gió, vẫn miệt mài đuổi theo khát vọng: “Tôi sống/ Nhìn những chiếc lá trôi theo dòng suối/ Đến mùa gió Nam thổi/ Tôi lại đi theo những chiếc lá/ Phiêu du…” (Tôi ở – 1994). Đó là hành trình phiêu du đi về với biển. Biển mênh mông và sâu thẳm, như khát vọng tự do khắc khoải suốt một đời cầm bút của Văn Cao: “Tới bao giờ tôi gặp được biển” (Tôi ở). Câu thơ là khát vọng, cũng là một quyết tâm kiên định, hướng đến những chân trời sáng tạo không giới hạn của Văn Cao.
Khát vọng sống
Với Văn Cao, khát vọng sống luôn thường trực trong tâm hồn ông. Thơ ông không chỉ phản ánh khát vọng sống của nhân dân lao động nghèo khổ một thời mà còn của chính bản thân ông – một nghệ sĩ tài hoa có ý thức cá nhân phát triển cao, luôn thiết tha sự sống đích thực.
Thơ Văn Cao đã phản chiếu thế giới tâm hồn trung thực của người nghệ sĩ luôn mong mỏi được sống sự sống thật. Thật ở đây không mang nghĩa đối lập với giả, với hư mà mang nghĩa được là chính mình. Sống không được là mình hay phải khép mình trong những khuôn khổ, giới hạn (dẫu vô hình) đều là bi kịch đối với con người, đặc biệt là người nghệ sĩ. Con người chỉ là chính mình khi được sống thật với những yêu ghét buồn vui, được nói lên tiếng nói của mình, được lắng nghe và thấu hiểu, được sống với những đam mê mà mình theo đuổi. Với một nghệ sĩ tài năng, đầy nhiệt huyết như Văn Cao, khát vọng được sống sự sống thật luôn tiềm tàng, âm ỉ: “Khi đêm tối tất cả người tôi thức dậy/ Những đam mê quên ngủ suốt ngày” (Thức dậy). Đó là sự trỗi dậy âm thầm, mãnh liệt của niềm đam mê nghệ thuật, là cuộc sinh thành trong bóng tối những sinh mệnh nghệ thuật mang tên Văn Cao. Dẫu có lúc ông cảm thấy mình tồn tại mà như không tồn tại: “Tôi không còn đủ nhớ/ Tuổi của tôi hay năm tháng bao nhiêu” (Không nhớ). Năm tháng đời người thoắt hóa hư vô sau khoảng thời gian chìm trong yên lặng và cô độc, đến mức: “Khi tôi hú lên thật to/ Không nghe tiếng tôi nữa/ Như viên đá rơi vào im lặng” dù trước đó “tôi còn nghe tiếng vọng trong lòng núi/ Tôi còn thấy những dấu chân người/ Những con chim bay qua còn in trên vách đá” (Lòng núi). Nhưng nỗ lực “hú lên” trong tuyệt vọng của Văn Cao chính là âm bản của khát vọng được thấy mình đang sống. Chưa kể, đó là tiếng hú mà ông muốn mọi người nghe thấy để bừng tỉnh giữa giấc ngủ lặng yên, an phận, đầy thỏa mãn.
Trải qua nhiều thăng trầm trong phận người và đời thơ, sâu thẳm trong lòng Văn Cao còn là khát vọng được sống bình yên. Bình yên là khoảnh khắc “Khi đầu tôi nằm im trên cỏ/ Một miền xanh trời xanh/ Lấp lánh những ước mơ mới lạ” (Trên đường). Bình yên là giây phút được ngủ êm “dưới mái nhà/…Với giấc mơ của những vì sao/ Những vì sao đang kể chuyện/ Giấc mơ của mái nhà” (Giấc mơ). Nhưng chốn bình yên thật sự, nơi gột rửa mọi ưu phiền đối với Văn Cao chính là “em”, “khuôn mặt em”: “Giữa những ngày dài dằng dặc/ Chỉ còn khuôn mặt em/ …Ôi khuôn mặt sáng trong và bình lặng/ Tôi được đầu tiên và còn lại cuối cùng”. “Em” không phải là một con người cụ thể bằng xương bằng thịt, “em” là nhân vật trữ tình biểu tượng cho một linh hồn trong sạch, cao đẹp mà không một sức mạnh hay một thế lực xấu xa nào có thể tiêu diệt hay làm cho hoen ố. “Em” là điểm tựa cho Văn Cao giữa cuộc đời mệt mỏi, “em” đồng hành với nhà thơ trên con đường sáng tạo nghệ thuật, cho ông tìm lại niềm tin yêu con người, “em” tượng trưng cho khát vọng và những giá trị quý báu mà ông nhọc nhằn theo đuổi: “Trên đường đi/ Anh đặt em trên đồng cỏ/ Thấy em đẹp mãi màu xanh cỏ dại/ Trên đường đi/ Anh đặt em trên dốc núi/ Để tìm lại những đường mềm của núi/ Trên đường đi/ Khuôn mặt em làm giếng/ Để anh tìm làm đáy ngọc châu”. Thực chất, “em” là sâu thẳm con người Văn Cao. Nên khát vọng bình yên với Văn Cao rốt cục vẫn là về lại với chính mình. Chính nhờ điểm tựa này mà Văn Cao đã giữ vững nhân cách, tài năng, lòng đam mê nghệ thuật giữa cuộc đời nhiều sóng gió.
Những khát vọng mà Văn Cao ôm chứa trong lòng là những khát vọng lớn lao, tầm cỡ, vượt lên giới hạn một đời người, một đời thơ để sống mãi với thời gian. Những khát vọng đó góp phần định hình chân dung tâm hồn người nghệ sĩ Văn Cao nặng lòng với Tổ quốc – Nhân dân, luôn khát khao vươn tới chân trời Chân – Thiện – Mỹ.
HÀ THỊ HOÀI PHƯƠNG
(Tổ trưởng Tổ Ngữ văn, Trường THPT chuyên Hùng Vương)

