Măng le gửi xuống…

(VNGL – Tùy bút). Ngay từ khi còn là sinh viên khóa 1 khoa Văn Đại học Tổng hợp Huế tôi đã được nghe mấy bạn quê Bình Định khi ấy đọc cho nghe câu ca dao “Ai về nhắn với bậu nguồn/ Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên”, thực ra câu này có vài dị bản, như là “bạn”, “nậu”… thay vì bậu, và nó không phải chỉ của người Bình Định, mà của cả Quảng Ngãi, Quảng Nam… những địa phương có phương đối xứng với các tỉnh Tây Nguyên nối nhau bằng các đường xương cá, như Gia Lai với Bình Định (cũ) là đường 19.

Tôi nhớ năm 1981, lần đầu tiên đứng ở đường 1 đoạn Tuy Phước nhìn lên phía Tây, nơi tôi đang tìm tới để nhận công tác sau khi tốt nghiệp đại học, chỉ thấy một dải nhấp nhô điệp trùng xanh với mây trắng viền quanh.

Tôi vẫn giữ cái ấn tượng vừa lãng mạn vừa lo lắng, vừa hồi hộp vừa khám phá khi ngồi trên cái xe đò dài thượt leo đèo An Khê để lên Pleiku.

Và một trong những món ăn bền bỉ của thời bao cấp ở bếp ăn tập thể mà cán bộ độc thân nào cũng trải qua thời ấy có món cá chuồn kho măng. Cá chuồn thì khô, măng thì tươi, kho với nhiều ớt.

Nó chính là hiện thực của câu ca dao măng le thì gửi xuống cá chuồn thì gửi lên. Câu ấy có nhiều giai thoại, nhưng chắc chắn nó là những lời trao gửi của người xứ biển miền Trung, mà gần nhất là Bình Định, với những tộc người Tây Nguyên ở trên dãy Trường Sơn quanh năm mây phủ kia. Người biển thì gửi cá chuồn lên, người Tây Nguyên gửi măng le xuống, những mối giao hảo Kinh Thượng. Tôi đồ chừng những quan hệ kinh tế sơ khai ban đầu ấy mở ra mối quan hệ khắng khít biển rừng rừng biển giữa các tỉnh duyên hải với Tây Nguyên, giữa Bình Định với Gia Lai (cũ).

Các tỉnh vùng biển tương ứng với các tỉnh Tây Nguyên (cũ) theo trục thẳng là Quảng Nam, Quảng Ngãi – Kon Tum, Bình Định – Gia Lai, Phú Yên, Khánh Hòa – Đắk Lắk, Ninh Thuận – Lâm Đồng. Quan hệ măng le xuống cá chuồn lên nó theo trục ấy. Giờ nhập thành các tỉnh thành phố Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng.

Nó là nhu cầu tự thân khi xã hội chưa phát triển, từng cộng đồng người co cụm sống với nhau trong một địa bàn gọi là làng.

Rồi có những người thông minh nhất, dũng cảm nhất, ưu tú nhất… nhìn ra bên ngoài, và họ phát hiện ra có thế giới ngoài mình. Thế giới ấy với dân biển là… măng le, và với dân trên rừng thì là cá chuồn.

Và thế là có những cuộc trao đổi, để “lạ” miệng, “lạ hóa” thực phẩm, mở ra sự “lạ hóa” đời sống.

Và từ cá chuồn với măng, các loại sản vật khác được trao đổi, trong đó có hai thứ sau này đã làm phong phú thêm nền văn hóa Tây Nguyên, làm nên thương hiệu Tây Nguyên dù người Tây Nguyên không làm ra nó, là chiêng và ché.

Chiêng thì người Tây Nguyên đổi của những lò đúc đồng của người Kinh ở Phước Kiều (Quảng Nam cũ) và An Nhơn (Bình Định cũ). Ché thì từ ché Chăm (Ninh Thuận cũ) và cả lò gốm Gò Sành (Bình Định cũ).

Chiêng và ché, ban đầu nó là vật dụng để sử dụng. Chiêng để thông tin, mỗi khi nhà hay làng có việc, thay vì hú, người ta đánh chiêng. Có những ký hiệu chiêng vui, chiêng buồn tới chiêng báo động, chiêng khẩn cấp. Tiếp theo nó mang ý nghĩa tâm linh, tham gia vào tất cả các lễ hội. Mà người Tây Nguyên thì rất nhiều lễ hội. Lễ hội đời người, lễ hội đời cây. Đời người thì từ khi sinh ra tới khi chết, cả sau chết là các lễ bỏ mả, đều phải có chiêng. Đời cây cũng thế. Rồi từ tâm linh nó trở thành tài sản. Có những bộ chiêng trị giá mười trâu tới trăm trâu. Có những bộ chiêng tương đương voi trắng, loại cực hiếm từ xưa cho tới giờ.

Rồi chiêng mang ý nghĩa dự báo. Mỗi khi có việc gì thì chiêng báo cho người biết.

Bây giờ thì không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể nhân loại. Trong cái không gian ấy có làng Tây Nguyên (luôn gắn với rừng), người chơi chiêng, người múa phụ họa và người chỉnh chiêng. Chính những người chỉnh chiêng tài hoa ấy mới có thể biến những cái chiêng Joăn (Kinh), mà người Kinh chỉ sử dụng rất ít công năng trở thành chiêng Tây Nguyên, để mỗi cái chiêng giữ một nốt trong cả dàn chiêng vừa vĩ đại vừa tài hoa kia, mà họ, người chỉnh chiêng ấy, chỉ dùng một cái búa hết sức thô sơ, với hai bàn tay và đôi tai kỳ diệu làm nên sự vĩ đại ấy.

Còn ghè, có nơi gọi là ché.

Anh bạn tôi, Lê Xuân Lợi, nguyên là Giám đốc Bảo tàng Chăm Ninh Thuận cũ cho biết: nghệ thuật làm gốm của người Chăm có từ lâu đời, thừa hưởng và phát triển từ dòng gốm Sa Huỳnh, giao lưu ảnh hưởng kỹ thuật nguyên liệu của các nước lân cận thậm chí của các nước Trung Đông. Nổi bật nhất trong dòng gốm Chăm xưa là gốm Gò Sành (Bình Định từ thế kỷ XII kéo dài đến thế kỷ XVII) để lại ảnh hưởng lên các dòng gốm hậu Chăm, đó là gốm Quảng Đức (thế kỷ XVII – XVIII) và Châu Ổ (thế kỷ XVIII – XIX). Hiện nay, người Chăm chỉ còn hai làng nghề gốm tồn tại, đó là gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận cũ) và gốm Bình Đức (Bình Thuận cũ), trong đó Bàu Trúc được biết đến là một trong những làng gốm với kỹ thuật từ xa xưa.

Còn gốm Gò Sành có nguồn gốc tại Bình Định cũ, mà thời kỳ phát triển rực rỡ là khoảng thế kỷ XII – XV, là loại gốm chuyên dùng cho các vua chúa, các già làng, tù trưởng vùng Trường Sơn Tây Nguyên, cũng là sản phẩm để giao lưu, xuất khẩu sang các nước trong khu vực… Các sản phẩm của những dòng gốm này rất đa dạng các loại như: bình trà, bình rượu, bình hồ lô, và đặc biệt là các loại ghè được sử dụng rất nhiều ở vùng Tây Nguyên.

Bình Định từng là kinh đô Vijaya của Vương quốc Chăm Pa, với nhiều cụm tháp Chăm cổ như Bánh Ít, Dương Long, Tháp Đôi và các tòa thành cổ, minh chứng cho sự hưng thịnh của nền văn hóa Chăm trên mảnh đất này.

Ở Gia Lai người ta đã phát hiện ra một “con đường Chăm” từ thành Đồ Bàn sang Ăng Ko Vát. Nó có từ rất lâu trước khi những người Việt đầu tiên là anh em nhà Tây Sơn vượt đèo lên đất An Khê lập chiến khu khởi nghĩa biến nơi đây thành Tây Sơn thượng.

Vậy thì mối liên quan giữa gốm Chăm (ghè, ché) với rượu cần Tây Nguyên là có thật, và hết sức biện chứng.

Cái tài nữa của người Tây Nguyên là, không chỉ biến nó thành thức làm/ đựng rượu mà còn biến nó thành tài sản, thành Giàng (Yang) của mình.

Tôi từng tới nhà Amí Đanh ở ngay trung tâm xã Ia Mlá (Krông Pa, Gia Lai cũ), nơi còn lưu giữ hai cái ghè cổ, một cái trị giá ba mươi con bò tức bằng nửa con voi, tức khoảng một trăm năm mươi triệu khi ấy, và một chiếc trị giá hai mươi con bò khoảng một trăm triệu (thời điểm cách đây 20 năm). Cái ghè trị giá ba mươi bò tên là Prung và cái hai mươi bò tên Chanr. Ghè này không biết có thiêng không nhưng rõ ràng là nó rất giá trị. Hỏi mấy vị lãnh đạo xã người Jrai rằng tại sao nó đắt tiền, bảo tại nó là ché Tuk (Dok). Hỏi tại sao ché Tuk lại quý lại đắt thế thì… không biết. Cũng ông bạn Lê Xuân Lợi giải thích rằng: Đa phần ghè của người Tây Nguyên là do người Chăm bán/ đổi lên, chủ yếu là gốm Bàu Trúc, khi bán họ giới thiệu đây là “ché tốt” và nó được nghe thành ché Tuk, tương tự thế là ché thiêng, ché Yang thành ché Tang, thì nghe thế biết thế nhưng tôi tin ông này vì ông ấy học sử và lại nghiên cứu văn hóa Chăm. Đây là 2 loại ché quý nhất của người Tây Nguyên, được sánh ngang với trâu, thậm chí voi. Đọc Trường ca chàng Đăm Săn ta đã gặp 2 loại ghè này.
Ở cái bảo tàng của Tòa giám mục Kon Tum có trưng mấy cái ghè cổ, cũng thấy đề hàng mấy chục trâu trở lên, nên việc bảo vệ ở đây rất nghiêm ngặt.

Gọi mùa xuân về. Ảnh: Nguyễn Văn Hùng

Cách đây hơn hai chục năm, chúng tôi được báo là ở làng ấy làng nọ có một chiếc ché cổ. Tôi tháp tùng cố Giám đốc Sở Văn hóa Gia Lai Kon Tum Trịnh Kim Sung (sau này ông là chủ tịch đầu tiên của Hội VHNT Gia Lai cũ) cùng một số cán bộ chức năng trên chiếc xe Jeep vào thẳng nhà anh K’pao, chủ nhân của ché cổ. Mới nhìn từ xa sau khi chủ nhà lật tấm chăn phủ, nó giống như mọi chiếc ché khác. Đây là loại ché to, cao cỡ ngang ngực người, màu da lươn thông thường. Một con gà do chúng tôi mua được làm thịt để cúng, báo với Giàng rằng có người lạ xem ché. Tiết gà được cắt trực tiếp vào ché mấy giọt, còn lại hứng vào đĩa. Lòng gan mề tim phổi… mỗi thứ một ít cùng với tiết trong đĩa bày bên ghè rượu. Chủ nhân cúng bằng tiếng Jrai đại loại là hôm nay có khách là các nhà báo, nhà văn hóa… đến thăm ghè. Có tí rượu, tí thịt cúng ghè để ghè chứng giám… Phải khoảng hai giờ đồng hồ chúng tôi mới tới gần được chiếc ché cổ. Thế nó có gì lạ? Thứ nhất là nó cổ. Thì hẳn là cổ rồi. Theo chủ nhân của nó nói thì chiếc ché này đã truyền qua 15 đời, đến đời anh đang sở hữu là thứ 16. Thứ hai là nó đắt, có người đã trả đến 50 con trâu trắng vào thời điểm cách đây hai chục năm. Thứ ba là nó thiêng. Cũng chủ nhân của nó cho biết, mỗi tháng anh phải cho nó ăn… tiết gà 3 lần. Thế công dụng của nó. Cũng theo chủ nhà, nó có thể báo trước những điều sắp xảy ra trong gia đình, trong dòng họ bằng cách đổi màu đỏ như máu. Tôi ghi là màu đỏ như máu nhưng chủ nhà nhất quyết là nó chảy máu. Năm 1975, vào đầu tháng 3, khi mà quân đội Việt Nam Cộng hòa chuẩn bị rút khỏi Pleiku, đường 25 tức đường 7 trở thành điểm nghẽn nổi tiếng trong lịch sử, chiếc ché này đã đổi màu suốt một tuần liền. Sau đấy mấy năm, lúc bố anh K’pao chuẩn bị mất một cách đột ngột, nó cũng đổi màu như thế. Trong làng có người đau ốm, đến cúng, sẽ khỏi? Vân vân…

Để thấy, sự gắn kết giữa hai địa danh, từ những vật dụng nơi này sản xuất, chế tác, nơi kia sử dụng, biến thành của mình, vừa là vật chất lại vừa là văn hóa.

Chưa kể sự gắn kết ấy còn mở đầu bằng sự hòa huyết Kinh Thượng giữa ông Nguyễn Nhạc và Yă Đố, người đàn bà Bahnar, khi ông lấy bà này làm vợ thứ, và bà trở thành một trợ thủ đắc lực của phong trào Tây Sơn trong việc lo lương thảo cho quân sĩ của cuộc khởi nghĩa này. Bây giờ ở An Khê vẫn còn cánh đồng Cô Hầu. Cô Hầu là một cách dân ta ở một vài địa phương gọi vợ thứ của người đàn ông, ít nhất ở Huế quê tôi người ta gọi vợ hai vợ ba của chồng như thế. Cũng có thể áp dụng cách hiểu ấy vào trường hợp này chăng?

VĂN CÔNG HÙNG

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Khát vọng trong thơ Văn Cao

Với Văn Cao, khát vọng sống luôn thường trực trong tâm hồn ông. Thơ ông không chỉ phản ánh khát vọng sống của Nhân dân lao động nghèo khổ một thời mà còn của chính bản thân ông – một nghệ sĩ tài hoa…

Buông bỏ

Làm sao để tìm ra kẻ đó? Câu hỏi len lỏi vào cả trong giấc mơ của gã. Nhiều đêm, gã thấy Thắng về, kể cho gã nghe rất nhiều chuyện nhưng mỗi khi nhắc đến đám người đó thì Thắng lại biến mất…

Những ngọn gió đi lạc…

Người ta bảo gió tự do, gió đi đâu cũng được, gió có thể rời bỏ mọi thứ mà không mang theo bất cứ gì, nhưng không ai biết gió cũng có những ngày lạc đường, cũng có những khúc quanh không lối thoát

Những hoài nhớ linh thiêng

Chỉ kịp mang bông lúa đượm vàng
Mẹ bật theo chuyến xe rất hiếm
dằm trăng rút nhỏ, một mẻ nắng quắt khô
ngõ Bạch Đàn hương thơm phất phơ gọi mẹ