(VNGL – Đọc sách). (Đọc Men trầm, bút ký của Vân Phi, NXB Văn học, 2025)
1.
Không cụ thể một định danh, tên sách chỉ khơi gợi. Bìa sách ẩn hiện một chóe rượu, men gốm quen thuộc sắc độ trầm. Sách có bài “Gò Sành” viết về sản vật gốm cổ nổi tiếng quê tác giả, sản phẩm các lò gốm xưa này chủ yếu là những vật dụng thân thuộc với đời sống: bát đĩa, chum vò, vốn “đồng hành cùng người Chăm trong bữa ăn, giấc ngủ, lễ cúng, và cả lúc tiễn đưa một người thân sang thế giới bên kia. Gốm Gò Sành vì thế mà có hồn, giản dị mà sâu lắng, như chính tính cách người dân quê tôi” (tr. 153). Những vật dụng hàng ngày này, đương nhiên có màu men gốm trầm, nhã nhạt. Men gốm vậy, lại còn một thứ “men” có chất liệu và cấp độ khác, đựng trong vò gốm: men rượu – thứ gây hưng phấn, gây say. Bài: “Thơm thơm từng giọt men nồng…”, tác giả như một tửu đồ “lang thang qua các làng rượu” nổi tiếng của Bình Định dọc sông Côn: rượu Vĩnh Cửu – Vĩnh Thạnh, rượu đậu xanh Tây Sơn, rượu Bàu Đá – An Nhơn, rượu Trung Thứ – Phù Mỹ. Đúng là, với các danh tửu kể trên, chỉ có thể diễn tả chắt đọng: “từng giọt men nồng”.
Với hai bài, hai chất men khác nhau ấy, đã thấy tên sách Men trầm không phải một hiển ngôn đơn giản. Ngoài gốm Gò Sành và rượu Bàu Đá, những sản phẩm trứ danh của xứ Nẫu, sách còn viết về những gì? Đó là bún song thằn An Thái, là bánh tráng Trường Cửu, là muối Diêm Vân; là những làng mai An Nhơn, làng cúc ở An Nhơn, Tuy Phước… Là võ cổ truyền, hát Bội Bình Định, rồi tiếng đàn gòong, đàn t’rưng, hát kể hơ’mon vùng núi rừng Vĩnh Thạnh… Cũng có những trang thời sự, đời sống xã hội, như cùng những người lính biển trên hải trình góp phần giữ gìn bình yên biển đảo quê hương; là những cảnh đời sau lũ dữ, tình người với những đứa trẻ mồ côi được yêu thương, chăm sóc sau đại dịch covid-19; là những người trồng rừng chắn sóng vì lợi ích chung; là ngày hội xuân ở một miền di sản…
Dễ thấy 20 bài ký là tập hợp những đất và người, những giá trị văn vật của vùng đất vừa hiển lộ vừa ẩn tàng nhiều trầm tích cần khám phá. Đi và gặp gỡ, nghe thấy, cảm nhận và viết. Trên từng trang viết đều lưu dấu những dặm dài rong ruổi, gom nhặt: khi lênh đênh cả chục ngày trên biển, làm quen với sóng gió mà chia sẻ đời sống người lính biển; lúc long rong qua bao đồng bãi, thâm nhập từng góc nghề, lắng nghe từng khát vọng, từng bất lực, nuối tiếc; khi cúi xuống cùng những phận người bất hạnh, lúc cộng thông với tiếng đàn gòong, đàn t’rưng, nghe tiếng hát kể hơ’mon trên thăm thẳm đại ngàn…
Các đề tài trên lâu nay đã nhiều người viết, và hẳn còn viết nữa sau này. Điều đọng lại của Men trầm, cũng dễ thấy, là trên từng chuyển tải, người viết luôn ký gửi một tấm lòng.
2.
Vân Phi là một nhà thơ trẻ thuộc “làn sóng mới” nhiều tiềm năng của văn chương Bình Định (Gia Lai bây giờ). Một nhà thơ viết ký, văn sẽ nhiều cảm xúc, ngôn ngữ đẹp, nhiều nhạc tính, dễ đi vào lòng người? Có thể. Nhưng Vân Phi khác. Anh không thiên về lớp vỏ ngôn từ. Mà lắng sâu những suy nghiệm.
Như, viết về mùa lũ trên quê mình, anh so sánh ký ức xưa “mùa nước lớn, tuổi thơ “hiền lành” lắm” với việc được nghỉ học, đi đơm cá, bẫy chuột đồng, bắt rắn nước, bẫy cò trên gò cao… Người lớn chống sõng đi vớt củi. Phù sa về tưới tắm cánh đồng cho mùa màng tươi tốt. Giờ thì những trận lũ ám ảnh: mới thấy nước mấp mé ngoài vườn, vài phút sau đã xâm xấp nền nhà, rồi thành biển nước, trâu bò, lợn gà, đồ đạc bị lũ cuốn, chìm ngập trong bùn non… Vấn nạn thủy điện xả lũ cứ chập chờn đâu đó, nghe tin là “tim đập chân run”. Không kết tội, lên án gì, tác giả chỉ thâm trầm hạ bút: “lũ lụt bây giờ, khác xưa nhiều quá…” (Nơi lũ đi qua, tr.38). Hoặc, hình ảnh người già ngồi thẫn thờ bên căn nhà đổ sụp sau lũ, “lôi trong đống gạch ngói chiếc áo cũ nhàu còn vương bùn non/…/ Nhặt nhạnh từng chút một, bà Chín dùng đôi bàn tay thô ráp xoa xoa, như đang âu yếm đứa con ruột thịt của mình” (tr.39,40). Vân Phi đã bắt gặp, cảm thấu, và lưu dấu như thế!
Còn đây, với “Cô Năm” – nữ võ sư Lâm Thị Hồng Hạnh của làng võ An Thái, cháu gái võ sư Hương Kiểm Lài lừng lẫy, nay nối nghiệp cha, ông, trao truyền võ cổ truyền cho hậu bối, trải năm tháng dần “ít người mặn mà với võ truyền thống”. Hầu hết các lò võ trên miền đất võ huyền thoại này cũng lâm cảnh chợ chiều. “Chúng tôi đang bơi, bơi trên dòng sông cạn” – Ví von với tâm trạng rời rã, bất lực của người nữ võ sư tâm huyết. Khép lại thực trạng việc “lưu giữ và phát huy tinh hoa võ cổ truyền còn lắm gian nan” tác giả kết bài đầy nỗi niềm: “Chia tay nữ võ sư, tôi cứ bị ánh mắt xa xăm khi ngồi trước quán tạp hóa của bà ám ảnh. Nó vừa khắc khoải, vừa trông đợi một điều gì đó, mơ hồ lắm…” (Võ sư Năm Hạnh: Đau đáu nghiệp truyền…, tr.56).
Cũng vậy, với các nhạc cụ truyền thống miền núi: đàn t’rưng, đàn goòng, hát kể hơ’mon, sau chuỗi dài tìm hiểu từ cách chế tác, nghe các nghệ nhân tài năng hiếm hoi còn lại thể hiện, tác giả kết bài về đàn t’rưng bằng một đồng cảm, tri nhận, và một e sợ… vốn quý sẽ biến mất: “Trên từng nhịp gõ t’rưng, tôi nghe như vọng về cả một miền ký ức của núi rừng…”, “Tiếng đàn trong trẻo kia không chỉ làm dịu nỗi buồn, xua đi sự cô quạnh, mà còn là tiếng gọi của cội nguồn, là nhịp cầu nối quá khứ với hôm nay.”, “…e rằng một ngày nào đó, t’rưng chỉ còn là âm vang xa xót trong hồi ức…” (Trên từng nhịp gõ t’rưng…, tr.79). Còn đây, cái ngui ngút trước viễn cảnh đàn goòng: “Rời Vĩnh Thạnh, dõi nhìn về ngọn núi Gió, tôi như thấy ở đó những gương mặt khắc khoải của các già làng. Chẳng biết rồi lần sau trở lại, tiếng đàn gòong còn thổn thức đâu đây hay chìm khuất vào cõi nào vắng bặt.” (Khắc khoải đàn goòng, tr.121).v.v…
Nhiều, thật nhiều nữa những tâm cảm và linh cảm. Đất và người, sự và vật, đời sống xã hội cụ thể và những giá trị tinh thần, trên từng dặm đường rong ruổi, Vân Phi luôn tìm thấy, nâng niu những vẻ đẹp, phải, ngay cả cái đẹp xa xót rợn người như cách bà Chín vuốt ve những vật dụng nghèo nàn của mình tã tượi sau lũ dữ!
Từ vị trí công tác, Vân Phi đi nhiều đã đành. Trong thơ anh cũng miên mải đi. Đi như một cảm hứng bất tận. Đi như số phận. Giờ mưu sinh, sống ở thành phố, nhưng quê nhà An Nhơn – đất kinh xưa, vẫn luôn níu giữ tâm tưởng. Trận bão, lũ vừa rồi, qua trang cá nhân thấy nhà cha mẹ anh sụp, bay mất mái ngói: ngôi nhà xưa, giờ còn người cha lắt lay bóng xế. Không chỉ người thân đâu. Quê nhà là nguồn cội thiêng liêng, ràng rịt những neo giữ. Ở đó có ký ức như tài sản quý giá vô song, bởi không thể trở lại. Nhà thơ lớn – ứng viên giải Nobel người Hàn Quốc – Ko Un từng viết: Cố hương là nơi tôi không thể rời đi/ Cố hương là nơi tôi không thể quay về.
Vậy đọc thêm một cảm nhận khác của Vân Phi có mùi vị quê nhà nhé. Là khi anh về lại An Nhơn của mình viết đặc sản bún song thằn An Thái. Cũng tiếp xúc làng nghề, gặp gỡ, tìm hiểu quy trình chế tác món bún bằng bột đậu xanh với nguồn nước sông Côn nổi danh từ hai trăm năm trước. Anh có kể về một người bạn lớn tuổi mươi năm trước dẫn đi xem từng lò bún với niềm hãnh diện chỉ nơi này mới làm ra loại bún đặc biệt này; rồi đãi món bún xào lòng gà nhớ đời. Giờ người bạn ấy “đã vân du cõi khác”. Anh ngồi lại một quán nhỏ ven sông, gọi tô bún song thằn “để nhấm nhá cái vị đậm đà của phù sa ướp ngọt vào từng hạt đậu.” Và bất ngờ nhận ra sự khác: “Ăn lại tô bún song thằn tôi có cảm giác rằng, bún giờ dường như có thêm gia vị mới. Gia vị của ký ức, của thân thương đồng làng ngày cũ” (Món ngon ngày cũ, tr.61).
3.
Trở lại với “men trầm”. Đã nói men gốm, men rượu. Còn nhiều loại men nữa. Nhưng có thứ men can dự rất nhiều đến đời sống chúng ta từ các món ăn quen thuộc: dưa muối lên men chua, sữa chua, cơm mẻ… giúp ngon miệng, tiêu hóa, giàu lợi khuẩn và dinh dưỡng. Men gốm làm đẹp, bền, kín nước cho đồ gốm. Men rượu làm hưng phấn, gây say. Các thứ men chua là thực phẩm hữu ích.
Vậy men trầm là gì? Tác giả gửi gắm gì với tên sách? Tôi cứ lan man nghĩ sau khi đọc xong hai chục bài ký. Chữ “trầm” thoạt nghe thấy vọng lan sắc-độ, Nhưng không phải. Không. Thực sự có cả những thứ men trên tích hợp trong cuốn sách này. Nó làm đẹp thêm, hưng phấn thêm trong cuộc sống, gần gũi, thân thuộc và hữu ích: những thân thuộc lên men! Nhưng phải có một quy trình nung qua lửa đỏ mới thành men gốm, quá trình chuyển hóa và chưng cất mới thành rượu…
Vân Phi có mọi thứ trên dặm dài rong ruổi. Và anh đã biết tinh luyện, chưng cất. Ai đó nói có mặt trời trong người mới thấy mặt trời.
Không riêng gì tác giả cuốn sách. Để chạm thấu những vẻ đẹp, những chân giá trị trong cuộc sống, con người cần lắng lòng, cúi xuống tri nhận, bởi những hào nhoáng bề ngoài thường hời hợt, chóng qua. Vẻ đẹp thực thường trầm ẩn không phô phang. Như các giá trị văn hóa bao giờ cũng phía sau những ầm ào lễ hội.
Tôi gọi “men trầm” là màu của văn hóa!
4.
Vân Phi bộc bạch gan ruột: “Cuốn sách này là ký ức tôi, tình yêu tôi, quê hương tôi, của quãng dài mười năm rong ruổi…”. Anh đã có chất “men trầm” cần thiết. Sẽ còn đi và viết nhiều trên miền đất giàu trầm tích này. Tất nhiên các vẻ đẹp cuộc sống với anh đều tâm huyết, đều đáng gom nhặt. Nhưng nếu sắp xếp thuần chất trong từng cuốn sách, vẫn tốt hơn cho cảm hứng bạn đọc.
Quy Nhơn Bắc, 26.12.2025
LÊ HOÀI LƯƠNG



