(VNGL – Văn học nước ngoài). Hai tuần sau khi Hannah và Mark kết hôn, cô đã phải lòng một người khác.
Đó là buổi sáng đầu tiên cô trở lại văn phòng sau tuần trăng mật, cô gặp một người thanh niên đang chờ nước sôi trong bếp của studio nơi cô làm việc. Trông anh ta khoảng ngoài hai mươi, nhưng dáng người còn hơi cao lêu nghêu, như thể vẫn chưa thoát khỏi hình dáng tuổi thiếu niên. Ấn tượng rõ hơn bởi chiếc quần jean xám và áo phông đen bạc màu được in tên một ban nhạc bằng chữ Gothic. Nhưng điều khiến Hannah chú ý lại là đôi tay anh. Cách anh chậm rãi mở tấm lọc, xúc từng muỗng cà phê, rồi gấp đi gấp lại mép túi giấy bạc để kẹp chặt giữa ngón cái và ngón trỏ. Khi anh đưa cho cô một tách cà phê, Hannah mới nhận ra mình đã nín thở từ lúc nào và từ từ thở ra, sợ anh sẽ nhận thấy.
Hannah đang cầm trên tay cuốn tạp chí Architectural Digest số mới nhất, trên trang 53 có hình ảnh ngôi nhà kính của Philip Johnson. Trên chuyến tàu vào thành phố sáng nay, cô đã chụp ảnh trang báo và nhắn cho chồng: “Giống như sống trong một tác phẩm nghệ thuật”.
“Cô đã đọc bài viết về Philip Johnson chưa?”, chàng trai trẻ vừa hỏi, vừa chỉ tay về phía cuốn tạp chí cô đang cầm. “Rồi”, Hannah nói. “Sống trong ngôi nhà của ông ấy chắc hẳn như sống trong một tác phẩm nghệ thuật”, anh nói. “Vâng”, Hannah đáp, “chính xác”.
Mùa hè sau khi tốt nghiệp trường thiết kế, Hannah từng cùng một người bạn du lịch bụi vòng quanh châu Âu. Họ thuê xe đạp len qua những con phố nhỏ ở Amsterdam, đạp ngang những căn nhà mái nhọn phủ đầy hoa mùa hè và dây xanh rủ xuống tận mặt đường. Xe đạp dựng ken dày trước quán cà phê nơi Hannah đứng đợi bạn mua đồ ăn. Một người phụ nữ đi ngang qua, ăn mặc chỉnh tề nhưng tóc tai bù xù và đôi mắt hoang dại, nắm lấy cánh tay Hannah và nói câu gì đó bằng tiếng Hà Lan. Một người đàn ông đang đọc báo ở gần đó nói: “Kệ bà ta, bà ta điên rồi”. Người phụ nữ lặp lại lời nói, lần này bằng tiếng Anh: “Bạn sẽ yêu một người đàn ông có tên bắt đầu bằng chữ B”.
Và giờ, khi đang ngồi ở văn phòng nghe trợ lý kể về chàng trai trẻ kia là thực tập sinh mùa hè – sinh viên trường nghệ thuật, người Úc, 24 tuổi, tên Brandon, Hannah chợt nhớ lại cuộc trò chuyện năm nào ở Amsterdam và nghĩ, vậy là anh đây rồi.
Khi còn nhỏ, Hannah đã thiết kế nhà cửa với độ chi tiết tỉ mỉ. Từ trên cao, cô phác thảo bố cục, chừa chỗ cho cửa sổ và cửa ra vào, bố trí không gian hợp lý và đặt các ngôi nhà trên khu đất để tận dụng ánh sáng cả ngày. Cô thiết kế sân vườn, vẽ từng loại cây trồng dọc lối đi – luôn là số lẻ – và đặt những chậu cây lá lớn cùng hoa năm cánh sặc sỡ trước hiên nhà. Cô phác thảo từng phiến đá, lối đi và đánh dấu vữa giữa các viên gạch xung quanh hồ bơi. Cô vẽ đồ nội thất trong tất cả các phòng. Cô trang trí chiếc gối tựa với những gam màu được lựa chọn cẩn thận. Trong mỗi ngôi nhà cô thiết kế đều có một căn phòng bí mật. Một không gian ẩn phía sau giá sách, sau tấm gương, hoặc một cánh cửa ngụy trang thành bức tường mở bằng bản lề giấu kín. Trong căn phòng ấy chỉ có một chiếc ghế thật êm và một giá sách. Nó được cách âm, trải thảm, và nếu thiết kế cho phép thì có giếng trời bằng kính để căn phòng nhìn thấy bầu trời mà vẫn giữ được sự riêng tư.
Hannah và Mark đã trải qua tuần trăng mật ở Thái Lan. Họ ở trong một căn chòi gỗ dựng trên cọc giữa vùng nước xanh ngọc của một vịnh cạn, nơi thủy triều lên xuống dưới chân giường mỗi buổi chiều khi họ nằm cạnh nhau. Trần truồng, ấm áp dưới ánh mặt trời, cô vuốt ve những sợi muối khô trên ngực anh khi họ trò chuyện về quá khứ và tương lai, học cách hòa hợp về thể xác và cuộc sống của nhau.
Hannah mô tả cho Mark về ngôi nhà mơ ước của mình, ngôi nhà mà họ sẽ cùng nhau xây dựng. Lấy cảm hứng từ những căn chòi Thái đơn sơ, cô hình dung ra ngôi nhà gỗ được xây dựng gần nguồn nước. Một khoảng sân với ao cá koi ở trung tâm, các phòng sẽ được nối với nhau bằng những hành lang mở có rèm vải có thể kéo lên khi trời nắng và hạ xuống khi trời mưa. Khi nói, cô dùng ngón tay vẽ từng căn phòng trên bụng Mark, kéo dài những hành lang dọc cánh tay anh, rồi dùng môi đánh dấu những điểm nhấn. Ở trung tâm ngôi nhà, giữa nhà bếp kiểu mở và phòng khách, Hannah hình dung ra không gian bí mật của riêng mình. Nằm khuất sau một tấm vách liền mạch – mở ra chỉ với một cái đẩy nhẹ và đóng lại với một tiếng tách nhẹ – không gian ấm cúng, yên tĩnh thuộc về cô.
B. trẻ hơn cô, dù anh ta có khiếu hài hước kiểu đen tối mà cô nghĩ là giống mình, nhưng cô cũng sớm nhận ra họ không có nhiều điểm chung. Trong khi những thiết kế của cô thể hiện sự tôn trọng kín đáo và riêng tư, thì những thiết kế của B lại phóng khoáng, hỗn loạn và phá cách. Anh sống quá nhiệt thành, quá rộng rãi, bốc đồng khiến anh trở nên khó lường. Sự thu hút mãnh liệt của Hannah đối với B. khiến cô cảm thấy dễ bị phơi bày. Dù lớn tuổi hơn và ở vị trí cao hơn, Hannah lại thấy mình cố gây ấn tượng với anh như một cô bé mười hai tuổi tìm cách lọt vào mắt các đàn anh đang chơi bóng đá.
Cô tự thuyết phục bản thân rằng sẽ vượt qua được. Cô trấn an mình rằng sự hấp dẫn đó không có thật, rằng cô chỉ đang tìm kiếm sự khẳng định bản thân không lành mạnh sau kết hôn. Cô luôn là người chung thủy. Cô yêu Mark. Cô tự nhủ rằng đây chỉ là một sự tán tỉnh vô hại, và một chút xáo trộn cảm xúc cũng là điều tốt, nó giúp mọi người luôn tỉnh táo. Thế rồi B. bắt đầu giải thích ý tưởng thiết kế của mình, đôi tay anh gập mở như cánh chim, xây cả đế chế bằng không khí – và Hannah lại yêu anh thêm lần nữa.

Sau vài tháng, họ bắt đầu cùng nhau đi ăn trưa. Họ mua sandwich từ một quầy bán trong công viên vào một ngày hè đẹp trời. “Chỗ kia có vẻ ổn đấy”, cô chỉ vào một cây phong bạc mọc xa lối đi. Họ chậm rãi bước tới đó, khuỷu tay khẽ chạm nhau. Nằm ngửa trên cỏ trong vùng nắng loang lổ, mắt nhắm lại, những ngón tay cẩn trọng đan trên bụng, B. kể rằng hồi nhỏ ở Úc, anh và anh trai từng làm một chiếc hộp thời gian bằng hộp bánh quy. “Chúng tôi nhét vào đó tất cả những báu vật của mình: hộp sọ của một con rắn chết, một chiếc xe đồ chơi yêu thích, lọn tóc của mỗi người, một chiếc bánh quy tự làm, một con thú nhồi bông của em gái và một bức ảnh chụp chung. Tôi tám tuổi và anh trai chín tuổi. Chúng tôi mặc áo giống nhau, cười toe toét như những kẻ điên dưới ánh mặt trời”. Hai anh em niêm phong hộp thiếc, hứa với nhau rằng sẽ chỉ đào nó lên khi cả hai đều ba mươi tuổi. Một độ tuổi lúc đó dường như quá xa vời và rất trưởng thành. Chiếc hộp được chôn dưới một bụi gai ở cuối khu đất và giờ nó vẫn ở đó.
Vài năm sau, gia đình B. chuyển đến Anh. Mười năm sau, anh trai B. tự bắn vào miệng khi đang phê heroin. Không có thư tuyệt mệnh, và gia đình bị ám ảnh bởi việc không biết liệu anh ấy có cố ý làm vậy hay chỉ đang trong cơn ảo giác do ma túy.
“Điều tồi tệ nhất”, B. nói, “là hộp thời gian vẫn chứa một phần của anh trai tôi, nhưng nó lại ở quá xa”. Anh mô tả nỗi cô đơn sâu sắc mà anh cảm thấy khi nghĩ đến việc nó nằm dưới bụi gai trong khu vườn thời thơ ấu ở một đất nước khác. “Gần như không thể chịu đựng được”.
Hannah ngồi xếp bằng trên bãi cỏ bên cạnh anh, tay đặt lên vai anh. Cô hiểu anh cần phải kìm nén cảm xúc, giữ lại điều gì đó cho riêng mình. B. vẫn nhắm mắt và nâng tay Hannah lên môi mình. “Anh ấy sẽ không bao giờ có mặt ở công viên này, vào ngày này, dưới ánh nắng này và ăn trưa cùng em nữa” anh nói, hơi thở ấm áp phả vào lòng bàn tay cô.
Hannah gọi điện cho mẹ và hỏi liệu có thể yêu cùng một lúc hai người đàn ông hay không. Mẹ cô kể về thời trẻ của bà, khi Hannah còn bé, bà đã gặp một người đàn ông trong kỳ nghỉ cùng gia đình ở biển. Ông ta ở cùng vợ trong căn nhà nhỏ bên cạnh căn nhà mà bố mẹ Hannah thuê. Khi mẹ cô nói tên người đàn ông đó, Hannah nhớ lại một người đàn ông cao lớn, có râu, mà cô hình dung đó là Barry Gibb, ca sĩ chính của nhóm Bee Gees. Mẹ cô kể rằng bà và người đàn ông này đã hôn nhau vào một buổi chiều, ở một khúc quanh khuất trên con đường từ biển về nhà nghỉ. Họ chậm lại và dừng trong bóng chiều, cả hai đều hiểu mình muốn gì. “Chỉ một nụ hôn là đủ”, mẹ cô nói.
Người đàn ông đó tiếp tục liên lạc với mẹ cô trong vài tháng sau kỳ nghỉ lễ, gửi cho bà một sợi dây chuyền vàng có mặt dây chuyền hình Thánh Anthony, vị thánh bảo hộ của những vật bị mất. “Con nhớ sợi dây chuyền đó”. “Mẹ đeo nó rất lâu”, mẹ cô nói. Hannah cảm thấy bị sốc bởi lời thú nhận của mẹ. Từ nhỏ, cô luôn tin rằng sợi dây chuyền là quà bà ngoại tặng mẹ. Cô nhận ra sự mỉa mai trong chuyện này, hiểu rằng bà ngoại từng là người giữ bí mật cho mẹ cô, giống như giờ đây mẹ cô đang giữ bí mật cho cô. Một bí mật luôn cần sự đồng lõa. “Chuyện này khác”, cô nói, “Con chưa bao giờ hôn B”.
Lần cuối Hannah gặp B. là ngày trước khi cô chuyển sang thành phố khác để nhận một công việc mới. Cô dành ngày cuối cùng ở studio để uống sâm panh, dọn dẹp bàn làm việc, bỏ đi những bản thiết kế và bảng màu không còn cần nữa, mang những chậu sen đá đặt lên bàn đồng nghiệp. Trên đường về nhà, cô rẽ ngang qua trường nghệ thuật và thấy B. đang cúi xuống một mô hình nhà bằng bìa cứng cùng một người bạn. Khi cô đến, người bạn rời đi, để lại cô và B trong phòng.
Anh bước đến và vòng tay ôm lấy cô. Cô áp mặt vào áo phông của anh, cảm nhận rõ xương quai xanh, mùi hương nam tính thoang thoảng và áp lực của từng ngón tay anh trên lưng mình. Cô ngẩng mặt lên và quyết định rằng nếu anh hôn cô, cô sẽ hôn lại anh. Một nụ hôn là đủ. Nhưng trước khi khoảnh khắc đó đến, họ đã tách nhau ra. Hannah lái xe về nhà.
Mark ra đón cô ở cửa căn hộ, tay cầm hai ly sâm panh. “Anh rất tự hào về em”, anh nói và trao cho cô một nụ hôn nồng nàn.
Điều mà Hannah chưa bao giờ kể với ai là khi cô mười lăm tuổi, bạn trai đã cưỡng bức cô. Vài ngày trước đó, cô ngồi ở ghế phụ trong xe của mẹ và nhìn vào cặp đùi thon thả, rám nắng của mình. Cô có đôi chân đẹp. Hannah đã nghĩ, “Có lẽ tốt nhất là mình nên mất trinh trước đã, rồi mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn”. “Mọi chuyện” ở đây nghĩa là sự thúc ép liên tục từ bạn trai cô. Còn “dễ dàng hơn” nghĩa là từ bỏ phần cơ thể mà cô chưa thật sự hiểu giá trị nhưng anh ta thì lại muốn có nó. Vài tuần sau, khi cảm nhận sự đau đớn và cứng rắn chen vào giữa đôi chân non trẻ ấy, cô nói: “Ôi Chúa ơi, đừng…” và khép chặt đùi quanh hông anh ta. Anh ta tiếp tục thúc mạnh bằng cả hông lẫn cơ thể như một hiểu lầm sự co cứng ấy là khuyến khích chứ không phải chống cự, hoặc có thể chẳng buồn quan tâm – cho đến khi xong việc. Và Hannah nghĩ: “Đây chẳng phải điều mình muốn sao?”. Sau đó, cô nói với anh rằng cô yêu anh vì một điều ý nghĩa đã xảy ra, và tình yêu càng có ý nghĩa hơn. Và anh cũng nói rằng anh yêu cô. Nhưng đến cuối tuần, chàng trai “đầu tiên” của Hannah đã đưa một cô bạn học của cô về nhà sau tiệc và ngủ với cô ấy.
Một năm sau khi Hannah bắt đầu công việc mới và chuyển đến nhà mới, cô mang thai. Cuối tuần đó, Mark xuống tầng hầm và dặn dò Hannah tuyệt đối không được xuống theo. “Đó là bí mật. Anh sẽ gọi cho em khi xong việc” anh nói. Khi cô được phép bước xuống cầu thang tầng hầm, Mark hé lộ một mô hình thu nhỏ căn nhà của họ – một ngôi nhà đồ chơi anh tự tay làm cho đứa con sắp chào đời. “Quà cho con người bé nhỏ của chúng ta.” Mark xoa bụng Hannah. “Hoàn hảo lắm,” Hannah nói.
Một năm sau, họ lại chuyển nhà, lần này là vì công việc của Mark và đến một quốc gia khác, nơi đó họ có thêm một đứa con nữa, Hannah ở nhà chăm sóc các con.
Một buổi chiều, khi lũ trẻ đang ngủ và cô loay hoay giặt giũ đống quần áo, điện thoại báo có email từ một địa chỉ lạ. Là B. Họ đã không nói chuyện nhiều năm, nhưng Hannah vẫn theo dõi sự nghiệp của anh. Qua bạn bè trong ngành và lặng lẽ theo dõi Facebook, cô biết anh cũng đã chuyển tới một quốc gia khác và hiện là trưởng bộ phận thiết kế của một công ty danh tiếng.
Email được viết bằng tiếng Pháp – thứ tiếng Hannah không biết, và cô cũng không hề biết B. biết nói tiếng Pháp. Cô dùng Google dịch.
Hannah thân mến, anh yêu công việc mới, nhưng anh nhớ những buổi sáng gặp em trong căn bếp công ty. Anh ước Mark không phải người tử tế, hoặc giá như chúng ta gặp nhau trước khi em kết hôn, bởi nếu có cơ hội, anh sẽ lao vào vòng tay xinh đẹp của em.
Một khao khát bất ngờ dành cho B. – khao khát tuổi trẻ bỗng bùng lên trong Hannah. Rồi kéo theo một dư chấn tiếc nuối: tại sao hôm đó ở trường mỹ thuật cô không hôn anh? Và tiếp theo là cảm giác nhẹ nhõm – cảm ơn Chúa vì cô đã không làm thế.
Thỉnh thoảng họ lại gửi thư cho nhau, và điều đó kéo dài nhiều năm. Anh chia sẻ niềm hạnh phúc của mình qua những bức ảnh ngày cưới và ảnh con đầu lòng. Cô viết về nỗi lo lắng khi phải quay lại làm việc sau khi khởi nghiệp kinh doanh thiết kế nội thất. Cô gắn thẻ anh vào một bài báo mà cô đọc về một thiết kế của anh. Anh giới thiệu cô cho một công việc tự do tại một studio mà anh quen biết ở thành phố của cô. Cô tư vấn cho anh khi anh gặp khủng hoảng công việc, và anh động viên cô khi cô nghi ngờ khả năng của mình. Họ nhớ ngày sinh nhật của nhau, và mỗi ngày Valentine, B. đều nhắn tin cho cô một trái tim màu đỏ.
Khi mới cưới, Hannah rất thích làm tình vào buổi chiều. Chậm rãi, thư thả, cô và Mark hòa vào nhau đến kiệt sức rồi chìm vào giấc ngủ. Nhưng rồi công việc và con cái dần lấy mất khoảng thời gian ấy. Điều đầu tiên là sự riêng tư, rồi năng lượng, cơ hội, thời gian, và cuối cùng là ham muốn. Ngày Valentine năm cô tròn bốn mươi tuổi, Hannah đóng tin nhắn chứa trái tim đỏ B. gửi sáng hôm đó rồi tắt đèn ngủ. Nằm cạnh người chồng đang say ngủ, cô đưa tay xuống giữa hai chân mình. Cô nhớ đến B. lần đầu gặp nhau, cách anh gấp mép túi cà phê quanh những ngón tay như một bác sĩ phẫu thuật. Cô tưởng tượng đôi tay ấy trên da mình – chỉ phần đầu ngón tay thôi – vuốt ve đầu ngực, bụng cô, đặt trên hai bên hông.
Cô khẽ lay lưng Mark. Xoay người ôm lấy người chồng đang ngủ, cô luồn tay xuống dưới anh. “Anh yêu, em đang ham muốn”, cô thì thầm vào tai anh…
Sáng hôm sau, trước khi Mark và bọn trẻ thức dậy, Hannah nhắn tin cho B. một câu trích từ cuốn sách Book of Longing của Leonard Cohen: “Tôi tin rằng anh đang đứng ở nơi mà lẽ ra tôi phải đứng”.
***
Hannah tụ tập cùng nhóm bạn nữ ở một quán rượu nhìn ra sông Thames. Điều đó có nghĩa là phải mang giày cao gót, trang điểm và loạng choạng bước trên con đường lát đá vỉa, uống rượu vang, than phiền về chồng con. Hannah ghét việc mình trở thành đúng kiểu phụ nữ khuôn mẫu ấy. Cô ước mình đang nằm trên sofa với Mark và bọn trẻ xem TV, hoặc độc thân, sống ở Paris cùng trang phục đắt tiền, lạnh lùng trong một gallery thời thượng.
Cô mở cửa quán bar. Một làn sóng âm thanh và hơi nóng ập tới. Josie – bạn cô – đang gặp chuyện không vui. Nhiều năm trước, Josie từng thú nhận chồng mình nghiện. Cô kể về cuộc sống cô độc, sợ sống tiếp cùng chồng, cũng sợ rời bỏ ông ta. Giờ đây, sau vài ly rượu, Josie thú nhận mình đang ngoại tình. Hannah không bất ngờ. Điều Hannah muốn biết là ngủ với người đàn ông khác sau ngần ấy năm thì thế nào? Mọi chuyện bắt đầu ra sao? Làm sao biết mình có khả năng ngoại tình? Gặp nhau ở đâu? Có sợ bị phát hiện không?
Josie ve vãn một người đàn ông tự nhận là thợ sửa ống nước, khiến Hannah và cô phá lên cười rồi nhân lúc anh ta đi vệ sinh thì buông những câu đùa tục tĩu về chuyện “kiểm tra đường ống” của Josie. Hannah nhảy với một chàng trai trẻ tóc dài râu rậm, gương mặt hiền lành gần như mang vẻ thánh thần. Hannah tự hỏi anh ta trông sẽ thế nào khi khỏa thân, nhưng rõ ràng anh ta chẳng hứng thú gì với cô. Cô chỉ là một phụ nữ trung niên trang điểm, mặc quần jean bó và giày cao gót. Những người phụ nữ như cô không còn khiến trai trẻ ngoái nhìn nữa.
Cô rời bar đi bộ về nhà, đôi giày cao gót lỏng lẻo đung đưa trên tay.
Vào buổi sáng, khi đang gõ bàn phím, Hannah nhìn thấy quảng cáo của một thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng kêu gọi phụ nữ “mở khóa tuổi trẻ”, như thể tuổi trẻ chỉ đang tạm thời bị cất giấu và có thể bung nở trở lại khi có cơ hội. Đứng chân trần trên mặt đường mát lạnh sau nửa đêm, Hannah nghĩ về việc “mở khóa tuổi trẻ” ấy sẽ như thế nào.
Cô nghĩ đến vô số cuộc đời mình đã không sống vì những lựa chọn đã đưa ra, và nếu được quay lại – nếu có suối nguồn thần kỳ nào đó – cô sẽ thay đổi điều gì. Cô hình dung Mark – mỉm cười trên chiếc võng dưới nắng – và B. trong công viên với cánh tay che mắt.
Cô quay lại trường mỹ thuật, trở về ngày họ chia tay. Trở về khoảnh khắc của nụ hôn chưa từng xảy ra. Nhưng quay lại thời điểm trước khi có con là điều Hannah không thể tưởng tượng nổi, cũng không mong muốn. Và khi nghĩ tới mí mắt nhợt nhạt của những đứa trẻ, hơi thở yên bình và bàn tay bé xíu cuộn lại trong giấc ngủ, Hannah hiểu điều mình cần. Cô đủ thành thật để thừa nhận rằng lý do cô khao khát B. hoàn toàn là của riêng mình và hầu như chẳng liên quan gì đến anh. Cô yêu cái không gian bí mật nơi B. chỉ thuộc về riêng cô. Anh lấp đầy những khoảng trống trong đời cô, nhưng cô không muốn đời sống thường nhật cùng anh. Thậm chí, không muốn biết cảm giác hôn anh ra sao. Cô thích anh được giữ nguyên trong chiếc hộp thời gian ấy – đầy ắp lời hứa về mọi điều có thể đã xảy ra – trong khi cô biết, bằng một sự sáng rõ tuyệt đối, điều gì là thật…
Mark cựa mình khi cô chui vào giường nằm bên cạnh anh. Cô nép vào lưng trần của chồng. Ấm áp. Hiện hữu. Đáng tin cậy. “Em có mùi rượu vang”, anh nói, giọng ngái ngủ. “Có thể em đã uống”. “Vui không?”. “Cũng thường thôi”. “Em làm gì?”. “Em nhảy với Chúa Jesus”. Mark quay sang nhìn cô bằng vẻ mặt như muốn hỏi: Anh có nên lo cho em không? Hannah áp mặt vào khoảng lõm quen thuộc giữa hai bả vai chồng.
Samantha Keller là tác giả viết truyện ngắn, tiểu thuyết và sách tranh cho thiếu nhi. Cô tốt nghiệp MFA (Thạc sĩ Mỹ thuật) tại Fairfield University ở bang Connecticut, Hoa Kỳ. Samantha Keller là một trong những người lọt vào vòng chung kết cuộc thi truyện ngắn mùa xuân năm 2018 của tạp chí Narrative. Phong cách của Samantha Keller thường thiên về cảm xúc nội tâm, khai thác ký ức, bản sắc và gia đình, kết hợp chất văn học đương đại với góc nhìn nữ giới và lịch sử xã hội. Phong cách sáng tác của cô có ảnh hưởng từ trải nghiệm sống giữa Nam Phi, Anh và Hoa Kỳ.
SAMANTHA KELLER
HIẾU NGUYỄN dịch
https://www.narrativemagazine.com/issues/stories-week-2018-2019/story-week/secret-space-samantha-keller


