(VNGL – Mỹ thuật). Tham gia Triển lãm Mỹ thuật khu vực V – Nam miền Trung và Tây Nguyên lần thứ 30 tại Quy Nhơn năm 2026, Gia Lai có 57 tác giả với 74 tác phẩm. Trong đó, 25 hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam góp mặt 42 tác phẩm; 25 hội viên địa phương và 7 cộng tác viên với 32 tác phẩm. Sự hiện diện của các lực lượng này tạo nên một diện mạo có nhiều thế hệ, kinh nghiệm và lựa chọn sáng tác.
Nhìn vào đội ngũ tác giả Gia Lai tham gia triển lãm lần này, điều khiến tôi quan tâm là sự tiếp nối. Bên cạnh những đồng nghiệp đã gắn bó lâu năm với nghề, có nhiều gương mặt đang từng bước tìm chỗ đứng bằng tác phẩm. Một cuộc triển lãm, qua những sáng tác được trưng bày, cũng cho chúng ta dịp nhìn lại lực lượng: những người đang giữ nhịp hoạt động và những người có thể đem đến chuyển động mới cho mỹ thuật địa phương.

Đội ngũ hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong hoạt động chuyên môn của Chi hội. Qua quá trình thực hành, tham gia triển lãm và trao đổi nghề nghiệp, các anh chị đã tích lũy kinh nghiệm, từng bước xác lập hướng sáng tác. Vai trò ấy còn thể hiện ở khả năng chia sẻ, đồng hành với đồng nghiệp trẻ. Với tôi, sự bền bỉ làm việc của người đi trước luôn có sức khích lệ: người trẻ cần được xem tác phẩm, nhưng cũng cần hiểu quá trình lao động để làm nên tác phẩm ấy.
Điều tôi muốn dành nhiều sự quan tâm trong dịp này là lực lượng hội viên địa phương chưa là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và các cộng tác viên. Với 32 tác giả, đây là một bộ phận đáng kể của đội ngũ tham gia triển lãm, chủ yếu là những gương mặt trẻ, giàu khát vọng sáng tạo. Trong lực lượng ấy có những người đã theo đuổi công việc nhiều năm, có người đang thử nghiệm để nhận ra sở trường. Mỗi người một bước đi, cùng đứng trước yêu cầu phát triển sâu hơn về nghề.



Quê hương vẫn là mạch nguồn được nhiều tác giả tìm về. Cảnh làng, sinh hoạt gia đình, lao động thường ngày, những dấu ấn văn hóa bản địa xuất hiện qua nhiều cách nhìn. Đáng chú ý là bên cạnh cảm hứng về cảnh sắc, các tác giả còn quan tâm đến con người và những trạng thái đời sống. Trong Nhịp chày bên hiên của Nguyễn Thị Kim Oanh, nhịp lao động gắn với không gian gia đình, được diễn tả bằng màu sắc dịu và đường nét mềm của lụa. Suy tư 2 của Ngô Văn Phú lại gợi sự nhọc nhằn qua dáng người, gương mặt và sắc nâu trầm giữa hàng rau trái. Những câu chuyện gần gũi ấy cho thấy khả năng tìm chất liệu sáng tác ngay trong đời sống quanh mình.
Về ngôn ngữ tạo hình, có thể thấy những lựa chọn khác nhau giữa diễn tả hình thể, khai thác tính trang trí và giản lược hình ảnh để nhấn mạnh cảm xúc. Có tác giả đẩy tương quan màu sắc lên mạnh hơn, như sắc xanh tím đặt cạnh nền đất đỏ cam trong Góc bình yên làng Hợp, Kbang của Hoàng Thị Phượng. Có tác giả nghiêng về nhịp mảng và nét, để hình thể hòa vào chuyển động của màu trong Rượu cần say của Đặng Việt Hà. Những tìm tòi ấy bước đầu cho thấy mong muốn vượt qua việc ghi chép cảnh vật, tìm một cách biểu đạt phù hợp với cảm nhận riêng.


Các hình tượng và họa tiết văn hóa truyền thống tiếp tục được khai thác trong sáng tác. Điều đáng suy nghĩ là cách đưa vốn hình ảnh ấy vào một cấu trúc tạo hình có sức thuyết phục. Ở Ô cửa thời gian của Nguyễn Xuân Quang, chân dung con người được đặt giữa những hình tượng gỗ, họa tiết và các mảng màu, gợi mối liên hệ giữa đời sống hiện tại với ký ức văn hóa. Từ đây, vẫn còn nhiều khả năng để người sáng tác đi sâu hơn vào trải nghiệm riêng, lựa chọn và tiết chế hình ảnh, làm rõ điều mình muốn nói.
Trong điêu khắc, sự quan tâm đến khối, khoảng hở và bề mặt vật liệu cũng mở ra những hướng thực hành đáng theo dõi. Chẳng hạn, Nơi bắt đầu của Triệu Tiến Dũng tổ chức các khối đứng, khối cong cùng dấu đục trên gỗ để tạo nhịp điệu và biểu cảm. Từ kinh nghiệm làm điêu khắc, tôi hiểu rằng những lựa chọn tưởng nhỏ như độ nghiêng của một diện khối hay độ rộng của một khoảng trống đều cần được cân nhắc qua quá trình làm việc. Sự trưởng thành về nghề thường bắt đầu từ việc giải quyết kỹ những vấn đề cụ thể như vậy.


Nhìn chung, ở lực lượng này có tình cảm với đời sống, sự chăm chút và ý thức tìm tòi. Mức độ làm chủ ngôn ngữ còn khác nhau; một vài bố cục nhiều chi tiết, có chỗ vốn hình ảnh quen thuộc cần được chuyển hóa sâu hơn. Khát vọng sáng tạo là điều đáng quý, nhưng để thành phong cách cá nhân còn cần vốn sống, khả năng chọn lọc và sự kiên trì thực hành. Tôi mong những gương mặt trẻ được khích lệ đúng mức, được góp ý thẳng thắn và có thời gian theo đuổi những thử nghiệm của mình.
Triển lãm khu vực là một cơ hội học hỏi. Khi tác phẩm được đặt cạnh sáng tác của các thế hệ đàn anh và đồng nghiệp nhiều địa phương, người trẻ có thêm điều kiện nhìn lại công việc của mình. Một cuộc trao đổi về bố cục, một cách xử lý chất liệu, một góp ý đúng chỗ có thể giúp các bạn nhận ra điều còn vướng. Người đi trước cũng cần lắng nghe những câu hỏi mới, bởi việc trao đổi chỉ có ý nghĩa khi cả hai phía đều cởi mở.
Về phía Chi hội, chúng tôi cần chú trọng hơn việc kết nối đội ngũ, tạo cơ hội sinh hoạt chuyên môn, giới thiệu tác phẩm và khuyến khích những hướng sáng tác có triển vọng. Những gương mặt trẻ cần sự đồng hành thường xuyên để giữ nhịp làm việc, tích lũy kinh nghiệm và từng bước trưởng thành.
Tôi kỳ vọng trong tương lai gần, từ lực lượng hội viên địa phương và cộng tác viên hôm nay sẽ có thêm những tác giả khẳng định được phong cách cá nhân, đủ độ chín để đứng vào đội ngũ Hội Mỹ thuật Việt Nam. Niềm kỳ vọng ấy cần được bồi đắp bằng công việc cụ thể của cả người sáng tác và tổ chức Hội. Với mỗi người trẻ tìm được tiếng nói riêng và bền bỉ với nghề, mỹ thuật Gia Lai sẽ có thêm một phần sức sống.
LÊ TRỌNG NGHĨA
(Chi hội trưởng Chi hội Mỹ thuật Gia Lai)

