Nghệ thuật K’toong Chigưl của người Chăm H’roi

(VNGL – Đất và người Gia Lai). Ai đã một lần được hòa mình vào không khí lễ hội truyền thống của người Chăm H’roi ở vùng Đông Gia Lai (tỉnh Bình Định trước đây), không thể quên được âm thanh rộn ràng của K’toong Chigưl. Theo ngôn ngữ dân tộc Chăm H’roi, K’toong Chigưl là “Trống đôi”, thuộc họ màng rung; gọi là trống đôi vì biểu diễn bao giờ cũng có đôi, diễn tấu mang tính trò chuyện, đối đáp.

Thân trống làm từ cây nguyên khối, được khoét rỗng ruột, có chiều cao khoảng 54cm, đường kính mặt trống khoảng 27cm (một số nơi tang trống được làm từ các thân gỗ rời như cách làm trống của người Việt). Để tiếng trống có thể vang xa, người Chăm H’roi không chọn da trâu mà dùng da bò hoặc da dê làm mặt trống vì da mỏng, khi đánh lên tiếng trống sẽ vang xa. Da được phơi khô, ngâm nước một đêm, sau đó mới đem ra căng làm mặt trống. Tại tâm một mặt trống đục một lỗ nhỏ, đường kính khoảng 1,5mm – 2mm để thoát âm. Tạo cho âm thanh trống vang lên với một bên dịu êm, trầm đục và một bên rộn rã, ngân cao.

Khi trình diễn K’toong Chigưl hai người biểu diễn đeo trống nằm ngang trước bụng, đứng đối diện hoặc quay lưng lại với nhau (tùy tình huống đối đáp), rồi sử dụng lòng hai bàn tay vỗ vào những vị trí khác nhau trên mặt trống tạo âm thanh. Khi chơi trống, người ta kích âm bằng đôi bàn tay. Đặc biệt, cách dùng bốn đầu ngón tay trái để vê, vuốt trên bề mặt trống nhằm tạo ra các âm sắc và tiết tấu phức tạp, đây là sáng tạo đặc biệt của người Chăm H’roi. Hai nghệ nhân vừa vỗ trống, vừa nhún nhảy theo nhịp, hai tay vỗ vào mặt trống liên hồi, nhún nhảy, lắc lư, đầu nghiêng bên này, ngó bên kia vô cùng sống động, múa theo các tiết tấu thưa nhặt, dồn dập do chính đôi tay họ tạo ra tạo nên. Âm điệu ngẫu biến trầm bổng chồng lên nhau, biến hoá sắc màu gợi lên trong trí người nghe sự tưởng tượng tiếng róc rách của suối, bập bùng của lửa và mưa nguồn thác lũ của đại ngàn. Âm thanh của hai chiếc trống đan xen nhau với nghệ thuật pha tiết tấu rất linh hoạt. Trống này ngừng, trống kia đánh, trống này chậm rãi, trống kia dồn dập, khiến người nghe có cảm giác như một cuộc đối thoại, người hỏi, người đáp. Kết hợp với nét biểu cảm trên gương mặt ăn khớp với tiết tấu, nhịp điệu, hai nghệ nhân biểu diễn trống thông qua ngữ điệu riêng truyền cho nhau những ký hiệu biểu cảm như một cuộc giao tiếp, chuyện trò.

NNƯT Ngọc Hương biểu diễn trống K’toong trong Ngày hội Văn hóa các dân tộc miền núi tỉnh Bình Định. Ảnh: Võ Chí Hà

Nghệ thuật múa trống đôi không dễ, người biểu diễn vừa mang trống mà tay lại phải múa liên tục, thân mình di chuyển, tung lên, bật xuống ngẫu hứng liên hồi theo sự biến tấu nhịp điệu, lúc thì nhẹ nhàng như lời tâm sự, lúc hưng phấn, sôi nổi theo tâm trạng của người múa, đôi tay vừa múa vừa đập vào mặt trống, tang trống tạo nên âm thanh: “T’rụp… t’rụp… t’roan… t’roan… t’rin… rin… chát… chát”…, rất tốn sức. Cho nên người múa phải có sức khoẻ, hiểu nhau để tạo nên âm điệu nhịp nhàng, hài hòa cho cuộc đối thoại thêm sôi nổi. Khi tiếng trống nhẹ nhàng, hòa quyện, tình cảm là thể hiện sự yêu quý, đồng điệu. Ngược lại, tiếng trống đốp chát, giận dữ thì như là cãi nhau, đố kỵ. Chính vì vậy mà nghe hai người đánh trống đôi, ta có thể đoán biết được tình cảm của họ vui, buồn, nhớ nhung hay giận hờn, trách móc… Do đó múa trống đôi phải là một cặp hiểu ý nhau, đồng điệu mới giữ cho cuộc vui trọn vẹn. Ai không thạo trống đôi, không nghe được lời của nó. Đó chính là cái khó của nghệ thuật đối đáp K’toong Chigưl.

Trong dàn hòa tấu với cồng 3 và chiêng 5 thì trống đôi gây ấn tượng mạnh nhất. Khi người Chăm H’roi chơi nhạc, tiếng cồng 3 rộn ràng mở đầu cho dàn âm thanh tưng bừng ngày hội. Tiếp theo đó, tiếng trống, tiếng chiêng mới bắt đầu nổi lên, nhập cuộc. Trong dàn hòa tấu trống đôi – cồng 3 – chiêng 5 với “bạt” và “scheo” thì 3 chiếc cồng có chức năng hòa thanh, 5 chiếc chiêng tạo giai điệu, còn trống đôi tạo tiết tấu dưới dạng đối đáp. Mỗi nhạc cụ có điệu thức riêng. Chiêng 5 có giai điệu thanh thoát, vang xa; cồng 3 thì đi bè trầm sâu lắng. Dàn âm thanh này vừa mang dáng dấp của cồng chiêng Tây Nguyên, vừa phản ánh nét văn hóa riêng biệt chỉ có ở người Chăm H’roi. Nhiều tộc người như người Cor, người Bahnar, người Giẻ Triêng, người Khmer… cũng có trống đôi, nhưng cách diễn tấu K’toong Chigưl đối đáp, song đấu, cãi nhau bằng trống, giảng hòa bằng trống, vui bằng trống…. như người Chăm H’roi thì không ở đâu có.

Đánh trống một cách “bập bẹ” thì có nhiều người biết, nhưng hiểu và sử dụng một cách thành thục và điệu nghệ, để có thể đối đáp cùng nhau, thì không phải ai cũng làm được.

Khó có thể quên hình ảnh biểu diễn K’toong Chigưl sôi nổi, mạnh mẽ, cuốn hút với những động tác múa điêu luyện của nhà nghiên cứu Đoàn Măng Téo (người Chăm H’roi); cùng tiếng trống đối đáp, lúc nhẹ nhàng, lúc reo vui rất trữ tình, trong trẻo của ông Đinh Trận hoặc tiếng trống nhộn nhàng, ngẫu hứng của ông Lê Thanh Những (cả hai đều từng là lãnh đạo của huyện Vân Canh trước đây).

Như một sự tiếp nối, tiếc mục biểu diễn “Tỏ tình mùa xuân” do nghệ nhân Đinh Bằng và NNƯT Nguyễn Thị Ngọc Hương. Với nghệ thuật K’toong Chigưl của người Chăm H’roi giờ đây đã thực sự cuốn hút người xem bởi tính đối đáp độc đáo của nó. Tất cả đều nhằm giữ cho tiếng K’toong Chigưl của dân tộc Chăm H’roi vang mãi cùng buôn làng.

Xuân Bính Ngọ 2026 này, du khách có dịp về với những làng Chăm H’roi trên đất Gia Lai sẽ được hòa cùng với hội mừng năm mới trong rộn ràng của giai điệu K’toong Chigưl.

PHƯƠNG NAM

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Nguyễn Xuân Ôn với Gia Lai

Đọc thơ Nguyễn Xuân Ôn, có thể thấy Gia Lai để lại nhiều dấu ấn trong các sáng tác của ông, bên cạnh quê nhà Nghệ Tĩnh và các địa phương nơi ông từng đến…

Đất & người Gia Lai – Những sắc màu mới

Triển lãm “Đất & người Gia Lai – Những sắc màu mới” nhằm giới thiệu, quảng bá hình ảnh quê hương, con người Gia Lai; giới thiệu về đời sống văn hóa – xã hội của đồng bào các dân tộc

Lễ hội hoa dã quỳ núi lửa Chư Đang Ya

Tôi cũng từng đi khắp 5 tỉnh Tây Nguyên (cũ) để ngắm quỳ, để rồi về vẫn quả quyết dã quỳ ở Gia Lai là đẹp nhất, vàng mê hoặc, to, cánh dày, viên mãn và hân hoan…