Sau cánh đồng ngô

(VNGL – Truyện ngắn). Con đường uốn khúc xuyên qua đồng cỏ rồi dần dần thu hẹp lại cho đến khi chỉ còn là một lối mòn khúc khuỷu len lỏi giữa những cánh đồng ngô đang trổ cờ. Hai bàn chân đen nhẻm không chạm gót, thằng bé thoăn thoắt chạy trên đám lá khô lép bép, chốc chốc nó dừng lại ngó nghiêng vào bụi cỏ. Tiếng bầy châu chấu rì rào một điệu ca trầm trầm, lan ra khắp vùng đồng trống mênh mông. Thằng bé quơ chiếc vợt, một con châu chấu xanh lè nằm gọn trong tấm lưới lùng bùng. Nó vặt càng cho vào lon sữa bò đục lỗ đeo lủng lẳng bên hông.

Qua hết cánh đồng ngô, thằng bé rẽ vào lối mòn hẹp đến mức nó phải nghiêng vai len lỏi để tránh những nhành cây cọ vào má nhồn nhột. Lon sữa bò chốc chốc lại rung lên tiếng bầy châu chấu lạch phạch đá nhau. Lối mòn quanh co dẫn về phía nền nhà nứt nẻ, trên đó những mảng tường vôi nham nhở còn sót lại từ một ngôi nhà xưa cũ. Vài tấm ván ép được dựng tạm bợ, bên trên mái lợp lá cọ rũ xuống. Thằng bé dừng lại thở hồng hộc trước cánh cửa khép im ỉm.

“Ông ơi!”, nó gọi to.

Không có tiếng trả lời. Trên hàng rào, một chú vẹt màu xanh lá khật khừ đứng ngó nghiêng. Thằng bé mở nắp lon sữa bò nhón tay lấy ra một con châu chấu.

“Nào Chíp! Xuống đây!”, nó xòe bàn tay, con châu chấu cứng đờ nằm gọn lỏn.

Có vẻ như đã quen, chú vẹt đập cánh lao vụt xuống quắp con châu chấu, ngửa cổ nuốt, rồi nghiêng đầu nhìn thằng bé, chờ đợi.

“Ăn vậy đủ rồi! Còn để dành!”, thằng bé treo lon sữa bò lên vách rồi chu miệng huýt sáo, giai điệu rộn rã khiến chú vẹt thích chí đập cánh phành phạch.

“Nào! Đi tìm ông thôi, Chíp!”. Từ trên cây sào phơi, chú vẹt nhanh nhẹn đáp xuống vai thằng bé.

Vén hàng rào chui qua đám đất lông chông phân dê và cỏ khô, thằng bé băng qua một cái đầm lau sậy cao ngang ngực, nó xắn quần lội. Đầm nước cạn xộc lên mùi bùn tanh ngái. Nó vẹt vài tấm lá sen rách cho dễ lội. Đám muỗi vo ve dưới đầm được dịp tuôn ra như trấu. Chú vẹt trên vai thằng bé nhấp nhổm há mỏ chực đớp muỗi, mấy lần suýt rơi xuống đầm.

Từ nơi này nhìn về phía đồng cỏ cháy, thằng bé nhận ra bóng cụ Chạng ngồi vắt vẻo trên mô đất cao như tổ mối, cây gậy trúc bóng lưỡng tựa trên vai. Cách chỗ cụ Chạng ngồi không xa, ba chú dê đang lúp xúp ăn cỏ.

Không ai biết cụ Chạng từ đâu tới. Người làng Trà Khê chỉ nhớ, vào một buổi sáng mùa hạ năm nào đó xa lắc xa lơ, trên cái nền nhà hoang cuối cánh đồng ngô bỗng mọc lên một căn nhà vách ván. Người làng để ý, thấy chỉ có một ông cụ chậm chạp vào ra với niêu cơm và ấm nước nhỏ xíu. Rồi họ cũng thôi tò mò. Mỗi khi có dịp đi qua cánh đồng, thỉnh thoảng người ta lại thấy cụ soạn giấy điều, ngồi mài mực viết những dòng chữ loằng ngoằng. Có người còn kể, có đêm qua đây, họ nghe cụ hát, tiếng hát rè rè như tâm sự, kể lể. Hết hát cụ lại cười, cười xong lại khóc hức hức như đứa con nít bị đòn oan.

Đều đặn mỗi sáng, cụ Chạng thức dậy lui cui đun ấm nước sôi pha trà rồi vác bồ cào ra dọn cỏ vườn, xới đi xới lại đám đất. Gặp mùa, cụ giâm thêm luống rau, mắc lại cái giàn cho mấy cây cà chua còi cọc.

“Tôi có sống một mình đâu? Ba đứa con tôi chạy ngoài kia kìa!”.

Lần nào nghe ai hỏi người thân cụ cũng hồn hậu cười chỉ ba chú dê đang nhung nhăng chạy ngoài đồng cỏ. Mỗi đứa cụ đặt cho một cái tên dễ thương: Tuyền – Mốc – Cụt. Tuyền là chú dê đen xinh đẹp, gần gũi cụ nhất. Mốc là chú dê cái xám, tính tình hiền lành, nhút nhát, lạc đàn tí lại be be. Cụt là chú dê đốm nghịch ngợm, suốt ngày chạy nhảy, có lần mải chơi đi lạc, báo hại cụ Chạng đêm xuống phải chong cây đèn bão đi tìm.

Người làng nói, cụ Chạng trông vậy mà ngây ngây dại dại, ai hỏi gì cũng cứ lơ ngơ. Tụi trẻ con thì chẳng hề quan tâm chuyện người lớn, có cơ hội, chúng lại rủ nhau mon men đến ngôi nhà sau cánh đồng ngô để chiêm ngưỡng chú vẹt xinh đẹp màu xanh lá, để nghe nó hát bằng cái giọng khàn khàn của cụ Chạng Ờ ơ… dê về… trời sập tối… Cũng có khi chú vẹt không hát mà đằng hắng lầm bầm Đất trời sao lạ kỳ… mới nắng đã mưa… Có hai câu đó thôi, mà tụi trẻ con nghe đi nghe lại vẫn ngả nghiêng cười khoái chí.

Thằng bé rón rén đi tới, trên vai nó, chú vẹt cà cồng cà cưỡng gật gù như ngủ. Đến bên gốc muồng già, nó lom khom chui vào trong hốc, tủm tỉm cười vẻ bí mật. Nhặt hai trái muồng già nó gõ vào nhau, tiếng lách cách khô khốc vang lên. Nhận ra ám hiệu, chú dê Mốc đang lựa mấy chiếc lá non nhấm nháp liền nghểnh cổ nghe ngóng rồi chạy tới. Tuyền và Cụt lim dim nằm nhai mấy chiếc lá mít non, hàm dưới đưa qua đưa lại khiến mấy sợi râu lơ thơ rung rung. Nhác thấy Mốc chạy đi, Tuyền và Cụt cũng bật dậy chạy theo.

Tiếng be be ran lên khắp vùng đồng trống lẫn vào tiếng cười khanh khách. Thằng bé chui ra khỏi hốc cây, chạy về phía ông cụ đang phe phẩy nhành lá héo đuổi muỗi.

“Chui ở đâu ra mà mặt mũi nhem nhuốc vậy?”, cụ Chạng hấp háy nhìn thằng bé kéo vạt áo lau vết bùn trên trán. “Nay ở đây ăn cơm với ông, có cá trê kho tương, món mày thích đấy!”.

Thằng bé nghiêng đầu cười khoe hàm răng xiết đen thui. Nó cúi xuống gỡ chùm cỏ may dính trên vai áo rồi quay lại búng ngón tay tanh tách. Hiểu ý, con vẹt lao xuống đậu lên vai cụ Chạng. Thằng bé ngồi xếp bằng trên thảm lá, ngước nhìn ông cụ, chờ đợi. Ba chú dê cũng nằm phủ phục. Đã đến giờ kể chuyện cho tụi nhỏ nghe. Cụ Chạng biết, chỉ có cách này mới giữ chân thằng bé ở lại lâu hơn.

Cụ nâng cây gậy trúc lên ngắm nghía, khẽ ho một tiếng hắng giọng.

“Ngày xưa, có một chú dê đốm cụt đuôi sống cùng với bà lão nghễnh ngãng. Ngày ngày chú ra đồng gặm cỏ, nằm nghe gió hát… Một ngày nọ, bà lão già yếu rồi qua đời. Chú dê  buồn rầu bỏ đi lang lang. Hôm đó trời nổi cơn giông, chú lạc vào một cái đầm, khóc lóc thảm thiết, tiếng kêu khóc lúc này chỉ là những tiếng be be đáng thương…”. Kể đến đó cụ cúi xuống kéo cái điếu cày lại gần, châm mồi đóm, rít một hơi sòng sọc. Mùi thuốc lào nồng nồng ngai ngái. Trên mô đất rắn lại như đá, thằng bé ngọ ngoạy vẻ sốt ruột “Rồi sao hả ông?”.

Cụ Chang ém một hơi thuốc, ngửa cổ phả lên trời, gà gật kể tiếp. “Tình cờ, có một cậu bé đi qua. Cậu thấy vậy liền ngồi xuống bên chú dê, ngắt vài cọng cỏ, vu vơ nói chuyện. Trời chiều nhá nhem, chú dê đang run rẩy chợt thấy bóng cậu bé bên cạnh mình, nó thôi khóc…”.

“Rồi cậu bé có mang chú dê về nuôi không hả ông?”, thằng bé hồi hộp.

Ông cụ lắc đầu. “Cậu bé đã đưa chú dê về lại căn nhà cũ của nó. Qua hôm sau, chú vẫn ở đó vì tin rằng sẽ có người quay lại đón”. Kể đến đó, cụ Chạng quay qua thằng bé hỏi “Cháu biết vì sao chú dê vẫn ở đó không?”.

Thằng bé lắc đầu.

“Vì lúc nó bất an, cậu bé đã đến. Và nó tin rằng, nó sẽ không bị bỏ rơi, nên nó vẫn ở đó chờ đợi”.

“Rồi sau đó?”, thằng bé khịt mũi “Nhẽ ra cậu bé phải mang chú dê về nuôi chứ?”.

Ông cụ lại lắc đầu. “Chú dê được đưa về đúng chỗ của nó, bên đồng loại, để ngày ngày nó lại vui vẻ ra đồng cỏ”.

Trên vai cụ Chạng, con vẹt xoay tròn tròn, khàn giọng bắt chước “Ra… đồng… ra đồng”.

Minh họa: Lê Duy Khanh

Thằng bé bật cười, nhớ lần đầu gặp cụ Chạng. Đó là một ngày nắng dậy sau những trận mưa dài lê thê và ảm đạm. Mẹ ra đồng, dặn nó ở nhà trông chừng ấm thuốc đang sắc trên bếp. Mải chơi, nó để ấm thuốc cạn khô. Mẹ trở về thì cái ấm đã cháy đen, khói xông lên mù mịt. Mẹ không mắng nó, nhưng nhìn đôi vai mẹ xụi xuống bất lực, nước mắt nó ứa ra. Nó lao về phía cánh đồng ngô, rồi chẳng biết bằng cách nào đó, đôi chân đưa nó đi về phía cái nền nhà bỏ hoang. Trượt chân, nó ngã dúi vào bãi cỏ đầy phân dê. Lúc ngẩng lên nó bắt gặp bóng một ông cụ đang ngồi trầm ngâm bên bếp lửa. Nhìn nó nước mắt tèm lem đứng chơ vơ giữa cánh đồng, ông cụ không gọi, cũng không vẫy lại gần, mà lẳng lặng vào nhà lấy ra cây sáo se sẽ nâng lên môi. Khúc dạo đầu vừa ngân rung, từ đồng cỏ bên kia, ba chú dê đã te tái chạy về be be ầm ĩ. Từ ngày biết cụ Chạng, thằng bé lại có thêm ba người bạn mới.

“Về thôi!”, cụ Chạng đứng lên phẩy nhành lá héo, tay cắp cây gậy trúc đi trước. Con vẹt đang gà gật ngủ trên vai cụ choàng tỉnh rít lên khó chịu. Thằng bé nhảy chân sáo theo sau, tay ôm cái điếu cày đã ngả màu xám mốc.

Trong khi cụ Chạng nhóm bếp, thằng bé chạy quanh nhà, thấy cái gì nó cũng sờ vào, cầm lên ngắm nghía. Một chiếc mũ cao bồi bạc màu, một bộ cung tên bằng gỗ mun, một sợi dây nịt màu da bò… Tất cả đều nhuốm màu thời gian. Thấy nó háo hức ngắm từng món đồ, cụ Chạng rung rung cười: “Thời trai trẻ qua rồi”. Trên chiếc giường xếp, cạnh gối có một chiếc áo thun trẻ con đã ố vàng, dưới giường là đôi dép nhựa màu xanh cũng đã bạc. Thằng bé cầm lên, ngơ ngác. “Ông ơi… đây là…”.

Cụ Chạng quay lại, mắt chạm vào chiếc áo trên tay thằng bé. Cụ run run “Để vào… chỗ cũ… cho ông”.

Thằng bé không hiểu chuyện gì nhưng nhìn cụ lặng đi, khóe mắt ngấn nước, nó vội vàng xếp chiếc áo vào chỗ cũ, se sẽ ra hiên.

Thời gian như ngưng đọng. Không một tiếng động nào ngoài đám tàn lửa bay lên lép bép, liếm vào cái ấm nhôm móp méo đang sôi bật nắp.

“Ông ơi…”, thằng bé khẽ gọi.

Cụ Chạng sực tỉnh, vội rót nước ra hai cái ly sứt quai. Thằng bé nâng ly thổi phù phù nhấp môi khà lên một tiếng đã đời. Trà nóng khiến cổ nó ấm ran. Nó ngồi xếp bằng trên tấm chiếu, lấy ra chùm dủ dẻ, vừa nhứ nhứ nó vừa dạy cho con vẹt nói.  Con vẹt vẫn bướng bỉnh nhai đi nhai lại cái câu cũ rích Ờ ơ… dê về…

Cụ Chạng đang cúi xuống khều mấy hòn than. Ngọn lửa hắt lên gương mặt nhăn nheo đầy bóng tối. Ngoài sân nắng chiều đã nhạt. Trên cây sào, chú vẹt khật khưỡng lại cất giọng khàn khàn Ờ ơ… trời tối…

Thấy thằng bé đứng lên tính chuyện ra về, cụ Chạng lấy đôi đũa khều củ khoai vùi dưới đống tro, gói vào miếng lá đưa cho thằng bé. Ra đến cái cọc rào, nó còn nghe tiếng cụ lào khào gọi với theo: “Mai qua không?”.

Vẫn là câu hỏi ấy, lần nào cũng vậy.

Thằng bé nhìn cái điếu cày dựng bên bếp, tự nhiên thấy cổ họng nghèn nghẹn.

***

Bố mẹ thằng bé quyết định chuyển nhà lên thành phố. Nhìn người ta buôn bán ngày càng phát đạt, mẹ nó chẳng cam lòng ở lại cái làng Trà Khê heo hút này. Lên thành phố, mẹ dự định sẽ mở một cửa hàng tạp hóa, bố chở hàng, còn nó cũng sẽ được chuyển đến một ngôi trường khang trang. Thằng bé ngơ ngác nhìn ra đồng đất phía sau nhà, nơi có mấy cái tổ chim lủng lẳng trên ngọn cây trẩu, nó bần thần vào ra, đếm ngược từng ngày. Sáu… năm… bốn… ba… hai…

Ngày cuối cùng trước khi rời làng, bố mẹ nó làm vài mâm cơm mời bà con gọi là có lời chào. Thằng bé ngồi thừ trước cỗ bàn ê hề, không buồn đụng đũa. Trong khi bố mẹ bận tiếp các cụ già, nó se sẽ lui ra, vén hàng rào chạy băng băng qua cánh đồng ngô cuối mùa lá cháy. Từ xa nó đã thấy cụ Chạng loay hoay bên nồi cơm vừa dọn ra trên nền đất ẩm. Trên cây sào phơi, chú vẹt vẫn khật khà khật khưỡng. Cái sân gạch trốc trỉa cỏ lên quá gối, ba chú dê túm tụm vào nhau lim dim nhai cỏ. Thằng bé đứng sững nhìn cảnh tượng quá đỗi quen thuộc, không dưng nước mắt nó ứa ra. Nó biết, ngày mai đây dễ gì nó được gặp lại cụ, được bắt cho Chíp những con châu chấu béo múp, được ôm ba chú dê kia vào lòng. Chuyện gia đình nó phải rời xa quê, nó vẫn chưa đủ can đảm để nói với cụ. Ngày mai, nó phải đi rồi…

Chú vẹt thoáng thấy bóng thằng bé, nó khàn khàn cất tiếng Ờ ơ… dê về… trời sập tối… Thằng bé chạy đến sau lưng cụ Chạng, nó chỉ kịp thốt lên: “Ông ơi… ngày mai… con…”, rồi nghẹn lại.

Cụ Chạng giương đôi mắt mờ đục nhìn nó, hai bên thái dương giật giật, hình ảnh nó vẫn thường thấy mỗi khi cụ xúc động. Cụ cúi gằm, chòm râu lơ thơ khẽ rung. Nó ngồi bên cho đến khi cụ chống gối đứng lên, chầm chậm vào nhà lấy từ trên vách xuống cây sáo trúc đã ngả màu mật ong.

“Cầm đi!”.

“Cháu có biết thổi đâu”.

“Cứ giữ lấy”.

“Giữ làm gì hả ông?”.

Cụ Chạng nhìn ra cánh đồng chiều mờ khói tỏa. “Biết đâu… có ngày cháu cần đến nó”.

Nắng chiều rút về phía chân đồi, để lại một màu nước xam xám nhạt nhòa. Thằng bé buồn bã trở về, qua hết một cánh đồng, nó ngoái lại nhìn căn nhà nhỏ, nó muốn thu hết vào tầm mắt mình cảnh vật nơi đây thêm một lần nữa. Bên hiên, bóng cụ Chạng lững thững chống gậy ra vườn, hấp háy nhìn quanh như tìm kiếm một điều gì vừa đánh mất, tấm lưng cụ cong vòng như dấu hỏi. Bên chân cụ, ba chú dê quây tròn như ba dấu chấm mờ nhạt…

***

Năm tháng trôi nhanh đến mức có lúc anh quên mất mình từng có một tuổi thơ nằm đâu đó sau cánh đồng ngô ấy. Thành phố cuốn anh đi như một cơn gió. Những con đường nhựa thênh thang, những đêm thành phố sáng đèn, tiếng còi xe ồn ã… Có lúc, giữa dòng người vội vã, anh chợt ngửi thấy mùi khói rơm ai đó vừa đốt lên, len qua mũi. Anh nghe văng vẳng đâu đây tiếng chú vẹt khàn khàn, tiếng dê be be lạc lõng giữa trời chiều. Hình ảnh tấm lưng cong vòng của cụ Chạng lại hiện lên, mơ hồ như khói bếp. Bao nhiêu lần anh muốn bắt xe về thăm quê cũ. Vài lần như thế, hết mùa này sang mùa khác, lời hẹn cứ lùi xa, cho đến một ngày anh biết mình không thể chần chừ thêm nữa. Gói ghém vài bộ quần áo cho vào chiếc ba lô, anh bắt chuyến xe sớm nhất, trở về.

Anh lần theo con đường đất cũ. Cỏ hoang đã mọc thành rừng. Cánh đồng ngô vẫn trổ cờ trắng xóa. Đứng trước ngôi nhà chỉ còn là cái nền đất rắn đanh, mảng tường vôi vữa cũng sụm xuống vỡ vụn. Anh lặng lẽ ngồi xuống phiến đá, nơi mới ngày nào cụ Chạng vẫn ngồi đun ấm nước sôi pha trà. Trên nền nhà còn lại chút tàn tích xưa. Một cái lon thiếc đựng tàn tro, anh bỗng nhớ cái lon sữa bò ngày xưa lủng lẳng bên hông mình, lạch phạch tiếng châu chấu đá nhau. Trong góc nhà, cái ấm nhôm móp méo còn vương đầy nhọ nồi.

Một bác nông đánh trâu ra đồng dừng lại kể. Những ngày cuối đời, cụ Chạng yếu dần. Cụ thôi đưa ba chú dê ra đồng xa, chỉ quanh quẩn bên hiên nhà. Sáng nào cụ cũng nhóm bếp đun ấm nước, đặt lên phiến đá hai chén trà, một cho mình, một để trống. Có hôm cụ ngồi rất lâu, mắt dõi về cánh đồng ngô, miệng lẩm nhẩm độc thoại. Rồi một dạo, không thấy cụ đặt chén trà thứ hai nữa. Cụ đã lặng lẽ cất nó đi.
Một buổi chiều, nắng trên cánh đồng lịm dần, cụ chống gậy ra thềm nhưng không bước thêm được một bước nào. Cụ tựa vào vách. Giấc ngủ sau cùng lặng lẽ đến nỗi không ai hay biết. Sáng hôm sau, người làng Trà Khê ra đồng chợt nghe tiếng be be ầm ĩ, lẫn trong đó là tiếng chú vẹt rít lên từng hồi thảm thiết.

Trên cái nền nhà cũ giờ đã sụm xuống sau một cơn bão mùa. Chú vẹt vẫn đứng đó, lặng lẽ như một cái bóng. Từ ngày cụ Chạng mất, chú vẹt ít nói hẳn. Có hôm chú cất tiếng hát Ờ ơ… dê về… rồi im bặt, như quên mất đoạn sau. Từ bao giờ, bài ca của chú cũng rơi rụng dần.

Trọn vẹn một buổi chiều, anh ngồi đó, trên mảnh vườn xưa hoang tàn cỏ dại. Hoàng hôn sập xuống, anh đứng lên phủi mấy cọng cỏ khô bám đầy gấu quần, lững thững quay về. Qua đầm sậy chừng mươi bước, anh ngoái lại, đâu đó bỗng vang lên tiếng vẹt khàn đục.

“Mai… qua không… con?”.

Gió từ đầm lau sậy thổi về ràn rạt. Anh đứng chết lặng, nó nhìn về khoảng sân ngày xưa, nơi có cái bếp lò luôn đỏ lửa. Chẳng còn gì ngoài một khoảng không trống hoác. Anh thầm thì: “Con về… rồi đây”.

Sau cánh đồng ngô, một tiếng sáo chợt vút lên. Chơi vơi…

VŨ NGỌC GIAO

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Về làng

Gặp lũ trẻ lấm lem hơi thở mùa màng
gặp cánh đồng râm ran tiếng châu chấu hát
tôi đưa em về làng
vết chân em lõm chiều chật bếp

Thắm một sắc yêu

Anh đưa tôi đến bạt ngàn xanh ảo mộng 
mây ngừng trôi trong nắng… cánh mây trôi
vách núi dựng nép sau làn sương mỏng 
tiếng thác gào… chuyện rất thật đó thôi 

Trong ban mai

Heo may vươn vai
rời cọng sen khô
bay khỏi xác xơ ngày cũ