(VNGL – Đất và người Gia Lai). Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây (Nguyễn Khuyến). Đó là hai câu thơ đã ngân nga trong đầu tôi khi lần đầu đặt chân đến thăm ngôi chùa cổ Thập Tháp Di Đà thuộc phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai. Chùa tọa lạc trên một khu đất cao ráo, bằng phẳng. Trước mặt là hồ nước trong xanh, yên tĩnh, bao xung quanh là hào lúa mênh mông xanh thẳm. Qua quốc lộ 1A, xuyên những ruộng mai nụ vừa cớm, là con đường vào chùa mà như đi vào đình làng, hun hút nối nhau những ruộng lúa, triền đê và lũy tre. Cách có một con lộ nườm nượp bụi khói xe mà nơi đây như được “kết giới” vào một cõi khác.

“Chùa cổ”, hai tiếng ấy thực gây sự tò mò cho du khách thập phương. Nét cổ kính nằm ở tổng thể kiến trúc của chùa. Đặc biệt là hệ thống tường rào chuộng nét thẳng, cổng vuông vức, thanh nhã, bố cục Chánh điện, Phương trượng, Đông đường, Tây đường hình chữ “ khẩu” tạo cảm giác vừa bề thế, rộng rãi thoáng đãng vừa gần gũi kết nối mà vẫn thâm trầm thanh tịch. Từng chi tiết của kiến trúc và cách bài trí đều hiện lên nét cổ xưa, tỉ mỉ, trau chuốt. Thời gian đã bào mòn những đường, sắc của dáng, nét chạm trổ nhưng bất lực trước sự bền bỉ của đá khối thiên nhiên và kĩ thuật tạo tác của bàn tay con người. Tất cả những chi tiết ấy hài hòa đến mức giữa rêu phong trầm tịch của đá, màu chùa cổ hắt ánh lam huyền mặc, giữ nguyên nét xưa trong từng thớ đá, vỉa gạch, trên từng mái ngói âm dương nắng mưa vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”.

Tôi thăm chùa Thập Tháp bằng niềm háo hức của người ngoạn cảnh đến với danh lam. Nhưng dư âm về ngôi chùa cổ cứ bảng lảng như tiếng chuông đồng ngân vang mãi trong tâm trí. Đó có lẽ cũng là chiều sâu tâm linh mà ngôi chùa cổ kính gợi ra chăng? Theo nhiều ghi chép và giai thoại, chùa do Thiền sư Nguyên Thiều khai lập năm 1668, dựng trên gò Long Bích, sử dụng vật liệu từ 10 tháp cổ trên nền đất cũ của tháp Chăm thành Đồ Bàn. Giai thoại cắt nghĩa cho tên gọi Thập Tháp, minh chứng cho chiều dài lịch sử gần 360 năm của ngôi chùa. Từ địa tích này, màu sắc huyền sử dường như đã khoác lên cho cổ tự sự linh thiêng khó cắt nghĩa. Thiển nghĩ, có gì đó trùng hợp như thiên duyên, như hạnh nguyện hoằng pháp lợi sanh của vị chủ trì khai sơn kiến tự. Nét độc đáo của ngôi chùa có lẽ nằm ở sự hiện diện của tháp. “Tháp người Hời nguyên là giống Ăng Ko” (Đề từ – Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng), đó là dấu ấn của sự giao thoa văn hóa Đại Việt và Chăm Pa, hữu hình là tàn tích nhưng lặng sâu là những trầm tích tâm linh, những lời “giải thiêng” còn bỏ ngỏ. Trong khuôn viên vườn chùa, tháp cổ và tháp miếu thờ phụng các cao tăng nhiều đời trước sừng sững uy nghiêm trong không gian trầm mặc. Màu thời gian phôi pha trên từng vòm cong mái tháp, trong ban mai hay ráng chiều, nhắc nhở kẻ vãng cảnh chùa về sự vô biên và trường tồn, về cả những hư không. Hơn 3 thế kỷ trôi qua, bao đổi thay dâu bể và thăng trầm lịch sử các đời vua, chúa Nguyễn đến nay, chùa cổ vẫn giữ lại những nét kiến trúc và bài trí đậm màu sắc văn hóa dân tộc, tạo thành di sản đền đài Phật giáo độc nhất vô nhị ở miền Trung. Dù nét sơn son thếp vàng nhường chỗ cho rêu phong trầm xám, nhưng những chi tiết khảm xà cừ trên linh thú, phù điêu, tượng lân vờn ngọc, “đao điệp” cán gỗ chữ vàng hay “sắc tứ” ánh lục nền vàng vua ban vẫn toát lên uy linh của hồn thiêng vật cổ. Tông trầm ấm của nhũ vàng, sơn đỏ trên tôn tượng 18 vị La Hán và đôi chuông đồng mang hoa văn pháp lam tạo nên một ấn tượng vừa uy nghiêm vừa gần gũi khi chiêm bái.

Hơn 350 năm, đá mòn, gạch vỡ, rêu phong chỉ làm dày thêm chiều sâu văn hóa của ngôi chùa cổ, bồi tích lắng tụ niềm tin tín ngưỡng, soi chiếu sự vững bền của đạo hạnh và chân tu. Biến thiên thời gian, đổi thay dâu bể không tạo ra đứt gãy mà chứng minh cho sự nối kết, chuyển hòa giữa đạo và đời. Qua bút tích của Hòa Thượng Thích Kế Châu, người có công lớn trong việc trùng tu, tôn tạo, làm khởi sắc chùa cổ, ta phần nào hình dung được lịch sử lâu đời và hạnh nguyện không đổi của các bậc chân tu trụ trì chùa Thập Tháp Di Đà: Phổ độ chúng sanh, hoằng dương Phật pháp. Thời bình hay thời chiến, đời thịnh hay đời suy đều từ căn gốc ấy mà gìn giữ. Thập Tháp danh tự được gọi là Tổ Đình có lẽ xuất phát từ đó; có sự kế thừa, đóng góp của nhiều đời bậc cao tăng, đưa Phật giáo ở Bình Định nói riêng và ở “đàng trong” ngày càng bề thế, hưng thịnh. Trong hơn 3 thế kỷ tồn tại, có lúc binh đao lửa đạn không mắt, hạn hán lũ lụt, sinh kế chẳng chừa ai, chùa cổ trụ lại giữa muôn trùng khó khăn, nhưng lẽ đạo và tình đời vẫn luôn quán chiếu song hành. Có phải vì thế không mà cổ tự tồn tại bền bỉ qua bao năm tháng, bất chấp sự băng hoại phá huỷ của thời gian và hư vô.



Hàng duối mở ra khu vườn xanh mát. Ảnh: H.N


Năm 1990, Tổ Đình Thập Tháp được xếp hạng di tích quốc gia. Từ đó đến nay, chùa… vẫn cổ, vẫn bảo lưu được nét xưa kính tôn nghiêm dù nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Sự giữ gìn đó, trong bối cảnh hiện đại, là một giá trị vô cùng đáng kể. Ngoài kiến trúc, các di vật thì cổ thụ trong khuôn viên chùa cũng góp phần tạo nên diện mạo thâm trầm sóng bước với thời gian. Tôi ấn tượng với “lão Bồ Đề” ở ngoài cổng vào Đông Đường và sáu cây duối xếp thành hai hàng tán lọng dẫn lối đến Tây Đường, những vòm xanh thanh mát như đưa ta vào cõi khác, cõi “thiền định nhiệm màu”. Xung quanh khuôn viên là cơ man liễu, nguyệt quế, đại sứ sừng sững vươn cành giữa trời xanh. Tôi vẫn nghĩ vãng cảnh chùa là một thú bình yên tao nhã, nhưng thăm Thập Tháp vào ngày đầu tháng Chạp gió heo may lại giống như một cơ duyên. Điểm giữa nét trầm nghiêm cổ thụ là tưng bừng sắc hoa. Hoa giấy mong manh mà rực rỡ, hoa thược dược lộng lẫy sắc thắm, mai vàng, vạn thọ rộn ràng báo xuân sang… Bất cứ nơi đâu có thể xếp được chậu cảnh, trong khuôn viên Chánh điện, trước Phương trượng, cạnh những bức bình phong cổ, hay mé Tây đường, Đông đường,.. khắp nơi sắc hoa bung nở, chao lay lặng lẽ trong gió, trong tiếng chuông chùa trầm ấm ngân vang, trong khói nhang huyền hoặc, nhắc ta giữ lòng thanh tịnh mà vẫn thơi thới mến yêu cuộc sống này. Chùa xưa liệm tang hải bể dâu ở đâu? Trong tiếng kinh cầu sớm tối hay trong nhịp chung ngân đều đặn mỗi ngày, mà ở cõi thế này, tại đây, phiền não đã được gột rửa sạch trong, an tịnh đến vô cùng?
Tôi đã bỏ ngoài cửa chùa sự tò mò háo hức, bỏ luôn cả những băn khoăn, chấp niệm rất trần để sống với không gian thanh lành ấy. Đó có lẽ cũng là cảm giác chung của người muốn tìm về chùa xưa, tháp cổ như tôi chăng?
KIM THOA




