Thời gian tạo hình, tạo hình thời gian

(VNGL – Nghiên cứu phê bình). Tập sách có 55 bài viết. Tác giả chia làm 5 phần theo mạch suy tư trên cả hai trục thời gian và không gian: 1) Khởi nguyên: ký ức và văn minh, 2) Đối thoại: lịch sử và bản sắc Việt, 3) Triết học và nghệ thuật thị giác, 4) Gánh nặng và mất mát, bất toàn, 5) Giấc mơ, cân bằng và tái sinh. Mỗi bài viết như sóng vỗ bờ, dạt dào cảm hứng nhưng rất súc tích, cô đọng. Thời gian khắc tạc vào không gian những dấu vết (Traces), những hình ảnh (Images), đến lượt con người tạo hình thời gian bằng những biểu tượng (Symbols), ký hiệu (Signs). Mắt nghĩ của Lê Trọng Nghĩa đạt đến cảnh giới nối kết giữa cái nhìn thấy và sự suy tư, giữa thực tại và quá khứ, giữa quá khứ và tương lai, vượt qua ranh giới giữa hữu hình để chạm đến cõi siêu hình, phá bỏ bức tường của tri giác thường nghiệm để đi tới tuệ giác siêu nghiệm.

Tập sách không áp đặt mà gọi mời. Mỗi bài viết đều mang tính chất gợi mở, kích thích tình yêu nghệ thuật và đồng sáng tạo cùng tác giả.

Bìa tập sách Mắt nghĩ của tác giả Lê Trọng Nghĩa

Hành trình thẩm mỹ của Lê Trọng Nghĩa, bao hàm cả thưởng thức và sáng tạo, đi từ nhìn ngắm đường nét, màu sắc, hình khối, cả chạm tay vào chất liệu, đến khép mắt để lắng nghe hơi thở, nhịp đập bên trong hình thức và bên trong trái tim mình. Trong Lời dẫn, Lê Trọng Nghĩa bày tỏ trải nghiệm của anh: “Chỉ khi đã đối diện và thấu hiểu hình thức, ta mới có thể khép mắt mà chạm tới chiều sâu bên trong nó. Trong khoảng tối ấy, những đường nét ngoài kia dần tan biến, chỉ còn lại nhịp thở, dư âm của hoài niệm và những tưởng tượng chưa kịp thành hình. Khi mắt khép, tâm mở; khi cái nhìn ngoài kia im lặng, trái tim lại cất tiếng”.

Trong lúc các nhà khảo cổ truy tìm dấu vết hóa thạch, kiểm chứng niên đại và nguồn gốc của những di sản, nghệ sĩ lại lắng nghe “hơi thở” của sự sống trong cái tưởng chừng vô tri, vô giác, đã chết. Sự sống phập phồng, cựa quậy trên từng đường nét, hình khối của thứ chất liệu tưởng chừng đông cứng. Các Venus nguyên sơ phồn thực của châu Âu, các Thần nữ (Shakti) của Ấn Độ và các Chiêm nữ của Champa, Thái Lan,… tưởng chừng chỉ là những mảnh ghép rời rạc, bỗng dưng hòa kết lại thành hơi thở, tiếng nói chung của đời sống nguyên sơ. Công việc của Lê Trọng Nghĩa như đứa trẻ chơi trò ghép hình. Ghép từng mảnh vỡ, từ những dấu vết đơn sơ nguyên thủy, đến ghép những thứ hình ảnh, biểu tượng đã được chế tác phức tạp từ cổ đại đến hiện đại. Không phải mua vui mà để lắng nghe. Lê Trọng Nghĩa lắng nghe hơi thở của sự sống từ các vết nêm trên đất của người Sumer. Trước khi thành ký hiệu ngôn ngữ, đó là sự sống đang cựa quậy, đang tâm tình, đang suy tư. Chẳng phải các khối hình học của những dấu vết nguyên sơ ấy đã làm nền móng cho những kỳ quan của các nền văn minh Babylon, Ai Cập, Maya…, kể cả những suy tư, tính toán của hình học, của tranh lập thể, trừu tượng hiện đại? Trong cái nhìn ấy, Lê Trọng Nghĩa nghe được hơi thở thì thầm từ trong thớ đất của gốm sứ Gò Sành, âm vang của trống đồng Đông Sơn, tiếng vỗ cánh của đàn chim Lạc và tiếng mái chèo của những con thuyền lướt sóng trên hoa văn của trống đồng. Bản sắc thực chất là những mảnh ghép trong bức tranh toàn cảnh của nhân loại, là các cung bậc khác nhau trong bản đại hòa tấu chung. Nghệ thuật làm sống động chất liệu bằng hình thức thẩm mỹ. Hình thức thẩm mỹ tự nó chứa đựng năng lượng sống, thứ năng lượng kết tinh từ tự nhiên và từ động lực sáng tạo không mệt mỏi của con người.

Lịch sử nghệ thuật, trong cái nhìn của Lê Trọng Nghĩa, gắn liền với lịch sử nhân loại. Nghệ thuật trải dọc theo thời gian bởi tầng tầng lớp lớp sáng tạo chồng xếp lên nhau. Bề ngoài tưởng chừng đứt đoạn, nhưng bên trong là sự nối kết, tự nó uốn cong thời gian thành không gian chung. Các cuộc cách mạng nghệ thuật tưởng đột biến nhưng thực chất là làm sống lại “ký ức”, đúng hơn là linh hồn của thứ thân xác đã bị vùi lấp, hủy hoại. Nghệ thuật Phục hưng chống khuôn mẫu của các đế chế trung cổ, làm sống lại các vẻ đẹp cổ điển Hy Lạp, đến nghệ thuật hiện đại làm sống lại những gì cổ xưa hơn trong tính tự do phồn thực nhất. Kể cả các trào lưu ấn tượng, siêu thực, lập thể, trừu tượng cũng không phải là đột biến mà thực chất là khơi sâu thêm vào các dấu vết nguyên thủy đã từng làm nền cho những kỳ quan cổ xưa. Trong cái nhìn lịch sử, Lê Trọng Nghĩa kết nối xưa và nay, hình thành nên một thứ không – thời gian nghệ thuật đúng nghĩa: “Nghệ thuật, cuối cùng, chính là cách con người viết nên những ký tự biết thở trên phiến đá vô tận của thời gian. Mỗi nền văn minh, mỗi nghệ sĩ, mỗi con người đều đã góp một hơi thở riêng. Khi ta khép mắt lại để lắng nghe, có thể nhận ra: phiến đá Hy Lạp thở bằng lý trí, trống đồng Đông Sơn thở bằng sóng nước, chữ Chăm thở bằng vũ điệu, tượng hình Ai Cập thở bằng nghi lễ, ký tự Maya thở bằng lời tiên tri… Tất cả hợp thành một hợp xướng lớn của ký ức nhân loại, vẫn đang ngân dài, vẫn còn thở, qua từng thế hệ sáng tạo”.
Nói về khuôn mẫu và tự do không thể không nghĩ đến Nietzsche. Nghệ thuật như là nghịch lý đầy bi kịch giữa tự do và khuôn mẫu. Trong khi nó đi tìm trật tự và ánh sáng của Apollo thì cũng chính nó vùng vẫy trong khuôn mẫu để tìm lại cái “nhất thể uyên nguyên” của tinh thần tự do, phóng túng Dionysus…

Đặc sắc của tập sách này chính là những đối thoại, phản tư nằm ngoài mọi giới hạn diễn giải của nghiên cứu, phê bình hàn lâm. Tập sách tạo ra một không gian mở cho đối thoại nảy sinh: đối thoại giữa xưa và nay, giữa Đông và Tây, giữa các quan điểm khác nhau về nghệ thuật. Đối thoại trong nghệ thuật hình thành nên các mảng đối lập, nhưng hòa điệu, như tìm thấy chủ âm của một bản nhạc đa âm. Lê Trọng Nghĩa tạo ra một thứ mỹ học mở, không chỉ cho nghệ thuật thị giác. Mở mắt mà nhìn trong giới hạn của khung khổ hình thức nhưng phải chạm tay mà cảm được hơi thở ấm nóng bên trong chất liệu và suy tư trong sự quẫy đạp vô hạn của năng lượng tinh thần. Nghệ thuật cũng nằm trong định luật bất toàn, nó phải dang dở để còn nuôi khát vọng vươn đến hoàn tất, nó phải tồn tại những khoảng trống cho sự tranh luận, phản tư trong cảm thụ, thưởng thức. “Nghệ thuật là cách nhân loại tự soi, tự chất vấn, tự tái tạo mình. Mỗi tác phẩm như một dấu chấm lửng, như một câu hỏi gửi về phía người xem. Nó không đòi câu trả lời. Nó đòi sự rung động”. Rung động không có điểm kết, chỉ có dư âm, nó hàn gắn lỗ hỏng hình thức nhưng lại làm cho hình thức méo mó, tan chảy và dai dẳng ra, như những cái đồng hồ của Dali. Thời gian và rung động, cả hai cùng tuân theo định luật bất toàn. Thời gian không chỉ xóa nhòa dấu vết mà còn để lại dấu vết. Thời gian tạo ra sự gãy đổ nhưng thời gian cũng hàn gắn gãy đổ. Thời gian cuốn trôi đến tàn phá mọi thứ nhưng thời gian cũng ngưng kết lại thành các di sản, dù là di sản đầy bi kịch như thảm họa Pompeii – sự sống vẫn cuồn cuộn ngay trong sự đông cứng của cõi chết. Cũng như vậy, rung động đẩy con người vào các thái cực, càng viên mãn càng buồn chán, càng buồn chán càng gia tăng niềm vui, càng hạnh phúc càng thêm nuối tiếc, càng nuối tiếc để càng thêm ham sống… Chính các vết mờ bất phân giữa các thái cực làm cho các đường nét, hình khối thêm lung linh sống động và huyền ảo. Chính những vết nứt và sự gãy đổ tạo nên những khoảng trống cho sự suy tư và sáng tạo vô hạn. Nói thêm điều Lê Trọng Nghĩa gợi mở. Venus ở Milo gãy cả hai tay cuốn hút hơn là một thân thể toàn vẹn, lý tưởng. Con nhân sư ở Kim Tự Tháp tróc sơn, gãy mũi ấn tượng hơn một gương mặt Pharaon màu mè, cân đối, đầy đặn và phương phi. Với Lê Trọng Nghĩa, khoảng trống nghệ thuật không là hư vô mà hiện hữu, tự nó phát sinh tưởng tượng, suy tư với những chiều kích khác nhau về tồn tại: “Trong kỷ nguyên dữ liệu và thuật toán, khi con người tin rằng mọi bí mật đều sẽ được giải đáp, hoài nghi lại càng cần thiết. Nó giữ cho ta một khoảng lặng, để lắng nghe chính mình. Và trong khoảng lặng ấy, nghệ thuật cất tiếng – không phải để phủ định, cũng không để khép lại, mà để gợi thêm câu hỏi”.

Trong tập sách, Lê Trọng Nghĩa luận về Đạo trong nghệ thuật, như A. Einstein luận về Đạo trong Vật lý học. Nghệ thuật tự do, bất định, như bản chất của không – thời gian vũ trụ, nhưng vẫn tuân theo Giới, Định, Tuệ như pháp tu nhà Phật. Giới nhà Phật gắn với sự chế ngự ham muốn của Thân; trong nghệ thuật, Giới gắn với sự chế ngự hình thức giả hợp đè lên chất liệu. Lê Trọng Nghĩa phê phán những hoạt động bảo tồn bằng trò sơn son thếp vàng lòe loẹt, bóp nghẹt hơi thở của chất liệu. Định của nhà Phật gắn liền với Tâm, trong nghệ thuật, từ sáng tạo đến thưởng thức, Tâm định hình thành Vật và Vật thu hút Tâm. Mỗi nhát búa hay một nhát cọ vận hành theo Tâm và sống động trên Vật. “Định trong nghệ thuật là thế: không đứng yên, mà chuyển động chậm rãi, bền lòng, dồn tất cả năng lượng vào khoảnh khắc duy nhất – nơi cái đẹp chợt lóe ra từ kiên nhẫn”. Tuệ của nhà Phật gắn liền với Trí, trong nghệ thuật là “nhìn thấu điều không ai nhìn”. Trong cái mong manh hữu hạn bởi thời gian, Tuệ làm sáng lên cái vô hạn trong mọi chiều kích không gian. Lê Trọng Nghĩa nói: “Có khi, một vết gỉ trên cánh cửa bỏ hoang, một vết nứt trên phiến đá, một vệt mốc trên bức tường cũ… cũng làm tôi lặng người. Vì trong đó, tôi nhìn thấy điều mong manh nhất – và chính vì mong manh, nó trở nên đẹp nhất”. Cái lặng người ấy chính là Thiền trong sự bất định của thời gian. Thời gian siêu hình mà rất hữu hình, chính nó khắc tạc nên vẻ đẹp tự thân của nghệ thuật. Vẻ đẹp của nghệ thuật không đồng nghĩa với son phấn giả tạo. Luật chơi của nghệ thuật không đồng nghĩa với bóp nghẹt tự do. Tự do trong nghệ thuật không đồng nghĩa với sự dễ dãi, lười biếng. Nghệ thuật đòi hỏi sự vô hạn trong giới hạn. Đó là Chính Đạo.

Không thể giới thiệu hết tất cả 55 bài viết trên 5 phần của tập sách. Mỗi bài có một dư vị, dư âm riêng, lan tỏa vô hạn trên cái hữu hạn của ngôn từ. Mỗi bài là một vết chạm khắc dở dang bằng ngôn từ, dựa trên đường nét, màu sắc, hình khối trong chiều dài vô hạn của lịch sử nghệ thuật nhân loại. Phải tận mắt đọc và nghĩ trên từng trang văn, câu văn của Lê Trọng Nghĩa, cũng như xem và nghĩ trên từng vết chạm khắc trong các tác phẩm của chính anh. Ở đó, người đọc sẽ được gọi mở bao nhiêu điều thú vị trong không gian mênh mông của cảm xúc, suy tưởng.

Tập sách gọi là “tản mạn” nhưng rất có hệ thống, vừa phân đoạn trên trục thời gian vừa nối kết thành không gian, khắc họa toàn cảnh nghệ thuật thị giác của nhận loại dựa trên tương đương của những dị biệt. Tập sách không còn giới hạn ở cảm thụ nghệ thuật của cá nhân một điêu khắc gia, họa sĩ mà bao quát đến mức thành “triết học về nghệ thuật”, như Hegel định nghĩa cho mỹ học.

Từ nguyên Hy Lạp: Aesthesis, thường được giải thích theo nghĩa trừu tượng của triết – mỹ học hàn lâm: sự tri giác và nhận thức cảm tính. Bằng trải nghiệm từ sáng tạo và thưởng thức của một nghệ sĩ, Lê Trọng Nghĩa cho thấy điều sâu xa hơn trong cái nghĩa từ nguyên ấy: sự nhìn thấy và rung động. Phương Đông xem đó là khoảnh khắc Vật kết nối vào Tâm và Tâm hòa điệu với Vật tạo nên sản phẩm Vật ngã đồng nhất. Khó có định nghĩa nào chính xác hơn: Nghệ thuật là sự kết nối để đi đến hòa điệu. Đó là sự kết nối đa chiều kích. Kết nối giữa hữu hạn và vô hạn, giữa hữu hình và siêu hình, giữa xưa và nay, giữa ta và cái khác; từ trong sự kết nối ấy, các linh hồn tìm đến nhau, hòa điệu nhau từ nỗi buồn đến niềm vui, từ đau khổ đến hạnh phúc, từ hy vọng đến nuối tiếc trong bản đại hòa tấu chung của sự sống và vũ trụ. Không hoang tưởng để nói nghệ thuật là bất tử. Nói theo Nietzsche, nghệ thuật là bi kịch, giữa tự do, phóng túng và trật tự của khuôn mẫu; ở đây nói thêm, nghệ thuật còn là bi kịch giữa mất và còn, giữa hủy hoại và lưu giữ. Chỉ có thể nói, nghệ thuật đang khắc tạc sự sống trên dòng thời gian, đến lượt thời gian khắc tạc lên không gian sự sống của nghệ thuật. Công việc ấy tiếp tục cho đến khi trái đất và loài người biến vào tro bụi.

TS. CHÂU MINH HÙNG

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Nhịp vó không hóa đá

Trong một số tác phẩm, ngựa xuất hiện trong bối cảnh nghi lễ. Ở Trà Kiệu, ngựa đi cùng đoàn người của hoàng tử Rama trong trích đoạn Ramayana…

Màu của văn hóa

Không cụ thể một định danh, tên sách chỉ khơi gợi. Bìa sách ẩn hiện một chóe rượu, men gốm quen thuộc sắc độ trầm…

Đầu xuân đọc “Lời hạ du sông hát”

Thơ Châu Thường Vinh không quá chú trọng vào việc thiết kế cấu tứ hay cách tân hình thức, cũng không câu nệ ở việc trau chuốt từ ngữ; ông lựa chọn cách thủ thỉ, giãi bày bằng ngôn từ mộc mạc…