(VNGL – Truyện ngắn). Đồng hồ điện tử trên tường phòng trực nhảy sang 01:15. Tiếng quạt tản nhiệt dàn máy chủ rì rì đều đều, nghe cũng na ná tiếng gió lùa qua khe núi cái đận tôi đi công tác dọc Trường Sơn hồi năm ngoái. Trên màn hình, dữ liệu cứ nhấp nháy: tọa độ mờ, tên khuyết, phiên hiệu đơn vị đã mòn theo năm tháng như chữ khắc trên bia đá lâu ngày bị rêu ăn. “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” phát động chưa lâu mà anh em trong tổ đã quắt hết cả người, thức đêm nhiều hơn ngủ, mắt ai cũng trũng xuống như hai cái hố bom con con.
Tôi đang định đứng lên pha bình trà đặc thì tai nghe rung lên. Đèn xanh nhấp nháy.
– Tổng đài Chiến dịch 500 ngày đêm xin nghe! Tôi là sĩ quan tiếp nhận mã số 408, xin nghe ạ!
Đầu dây im re, chỉ nghe tiếng gió rít với tiếng côn trùng rả rích, như có ai đang thở dồn mà chưa dám cất lời. Rồi cái giọng già khụ, run bần bật, cất lên:
– Ơ… ơ cái số này có phải chỗ tìm mấy ông hy sinh hồi đánh Mỹ hông chú?
– Dạ đúng rồi bác ơi! Bác cứ nói, cháu ghi liền đây ạ.
– Tui tên Tám Bưởi. Ở tuốt Ngô Quyền, Cà Mau lận. Cái đài rẻ tiền của tui nó rè rè cả tháng nay cứ nói hoài về cái chiến dịch chi đó. Đêm nào tui cũng trằn trọc, giờ chịu hết nổi mới biểu thằng cháu xóm bên bấm số giùm. Chuyện xưa hơn năm chục năm rồi chú ơi, có khi kể ra chú cười tui già lẩm cẩm…
– Bác cứ kể từ từ, cháu nghe đây.
Ông Tám hắng giọng, cái giọng nghe như có sạn trong cổ:
– Cái hồi đó… khoảng năm bảy tư, mùa nước nổi. Đêm đó mưa như trút, gió giật bay cả mái lá. Có chú biệt động bị thương nặng, máu me tùm lum, bò lết vô được gầm sàn nhà tui. Má tui với tui hết hồn, kéo đại chú lên trên trần nhà giấu. Chú đó trẻ măng, chắc mười chín, hai mươi là cùng, da trắng bóc, nói giọng ngoài Bắc nghe lạ hoắc, kể nhà có cây nhãn lồng bự lắm trước sân. Được ba bữa thì chú đi. Địch tuần dữ quá, má con tui hổng dám đưa đi xa, đành đào cái huyệt nhỏ xíu sau hè, bọc miếng tăng ni-lông rồi lấp lại, coi như gửi chú ở đó luôn.
Tôi ngưng gõ phím. Ông Tám hơi khục khặc, cười mà như mếu:
– Chú biết hông, cái đận đó tui còn con nít, sợ ma thấy ông nội, đêm nào cũng nằm co như con tôm. Vậy mà lạ, từ hồi chôn chú ấy, tui hay chiêm bao thấy chú đứng đầu gò, dáng cao cao, hay đứng day lưng ra sông, tay ôm cây súng gãy báng. Có bận tui hỏi trổng “chú tên gì vậy chú ơi”, chú quay lại cười, cái miệng móm xọm hà, cười mà hổng nói. Má tui biểu đừng hỏi nhiều, hồn người ta còn vướng thì mình cứ thắp nhang cho ấm, hỏi riết chú buồn chú đi luôn hổng về nữa. Vậy là tui nín, chỉ dám lâu lâu ra gò nói vọng vô “chú ơi ngủ ngon nghen chú”. Trước khi mất, chú ấy có đưa má tui cái huy hiệu Măng non nhỏ xíu, dặn hễ năm nào hòa bình có ai kiếm thì đưa cái đó ra làm tin. Vậy mà cái năm tám mươi nhà tui cháy rụi, huy hiệu cũng thành tro theo. Má tui hồi hấp hối còn nắm tay tui trối: “Giữ cái gò đó nghen con, người ta đổ máu vì đất này, mình hổng được quên”. Tui nghe lời má, năm nào cũng cúng, cũng nhổ cỏ quét lá. Mà giờ tui sáu lăm rồi, tay chân bắt đầu lẩy bẩy, cây chổi cầm hổng vững nữa. Tui sợ, sợ cái ngày tui nhắm mắt là cái gò thành vô danh, người ngoài Bắc có kiếm cũng hổng biết đường nào mà lần…
– Dạ…
– Ba bữa đó tui nhớ dai lắm chú ơi, quên sao được. Đêm đầu chú còn tỉnh, rên khe khẽ, biểu má tui đừng thắp đèn sợ địch thấy ánh sáng lọt khe vách. Má tui lấy nước muối rửa vết thương cho chú, tay run cầm cập mà miệng cứ dỗ “ráng chịu con, ráng chịu nghen con”, kêu chú bằng con luôn, dù chú lớn hơn tui có mấy tuổi. Đêm thứ hai chú đỡ hơn chút, còn cười cười kể chuyện cây nhãn lồng nhà chú, kể mẹ chú hay đợi tới rằm tháng Bảy mới cho ăn, ăn sớm sâu nó cắn. Tui nghe mà thấy là lạ, ở đây tụi tui đào củ co mà ăn cầm hơi, ngoải người ta còn có nhãn lồng để dành theo mùa. Đêm thứ ba thì chú lịm dần, tay nắm tay má tui, miệng ú ớ kêu má, hổng biết kêu má chú hay kêu má tui nữa. Tới gần sáng thì chú đi, nhẹ hều, như ngọn đèn dầu cạn tim mà tắt.

Giọng ông nghẹn lại, tôi nghe rõ cả tiếng nấc bên kia đầu dây. Tôi hỏi thêm chi tiết: ấp Tân Lập, khoảng tháng Sáu, Bảy âm năm Bảy tư, người cao chừng một thước sáu lăm, có cái răng khểnh bên trái. Ông Tám kể vanh vách như chuyện mới hôm qua, lâu lâu lại chen câu “trời đất ơi hồi đó khổ dữ lắm chú ơi” nghe muốn đứt từng khúc ruột.
Tôi nhập hết vào hệ thống, máy quét ràn rạt qua hàng ngàn hồ sơ. Một dòng nhảy ra làm tim tôi khựng lại: Liệt sĩ Nguyễn Văn Nam, sinh 1954, quê Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cũ. Mũi biệt động 3, Tiểu đoàn 1, Quân khu 9. Hy sinh tháng 7.1974 tại Cà Mau. Thân nhân đăng ký: Nguyễn Văn Hùng, em trai.
Nguyễn Văn Hùng. Cái tên nghe quen muốn chết. Tôi lục trí nhớ một hồi mới sực ra – thầy Hùng, ông thầy dạy Văn hồi cấp ba của tôi, người hay ngồi lặng bên cửa sổ lớp mỗi lần giảng tới mấy bài thơ về người lính, mắt đăm đăm nhìn đâu đâu. Thầy từng kể, giọng buồn hiu: “Anh thầy đi B từ hồi hai mươi tuổi, biệt tăm luôn tới giờ. Mẹ thầy nhắm mắt cũng chưa được gặp lại con, cứ dặn đi dặn lại phải tìm cho ra. Biết tìm đâu giữa cái đất nước dài như đòn gánh này!”.
Tôi run tay, gọi báo cáo cấp trên, rồi lật đật bấm số cho thầy Hùng dù đã gần hai giờ sáng. Đầu dây im bặt một hồi lâu khi nghe tôi đọc tên đơn vị, năm sinh, quê quán. Rồi giọng thầy khàn đặc, nghẹn như có ai bóp cổ:
– Đúng… đúng anh Nam của thầy rồi trò ơi.
Ba bữa sau, đội quy tập K93 cùng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh có mặt tại gò đất sau nhà ông Tám. Ông đứng từ tờ mờ sáng, tay vẫn cầm cây chổi lá quen thuộc, đứng khòm khòm nhìn, miệng lầm bầm gì đó – sau này ông kể lại là ông đang “xin phép chú Nam cho người ta bứng chú đi, đặng về nằm gần má, gần quê”.
Đất phù sa ngập mặn, đào sâu hơn thước mới thấy. Tấm bạt ni-lông mục hết trơn, nhưng bộ hài cốt vẫn nằm yên, kèm cái ca nhôm quân y móp một góc với mấy cái nút áo đã ố màu thời gian. Mẫu ADN đưa lên Viện Pháp y đối chứng, hai tuần sau khớp gần trăm phần trăm.
Hôm truy điệu, tôi được đi cùng đoàn vô Cà Mau. Trời sau mưa nắng gắt, sân nhà ông Tám nhỏ xíu mà đông nghẹt người. Thầy Hùng tóc bạc phơ, vừa bước xuống xe đã chạy lại nắm chặt tay ông Tám, hai ông già một Bắc một Nam đứng khóc rưng rức như trẻ con lạc mẹ giờ tìm lại được nhau. Ông Tám Bưởi vừa quẹt nước mắt vừa cười móm xọm:
– Trời, cái mặt chú giống anh Nam ghê, giống cái miệng cười á! Hồi đó ảnh cũng cười vậy nè, cười mà hàm răng khểnh bên trỏng, y chang.
Lá cờ đỏ sao vàng phủ lên tiểu quách. Tôi đứng nghiêm, giơ tay chào theo điều lệnh. Tấm ảnh thờ đặt trên bàn: mái tóc xanh tuổi mười chín, cái răng khểnh bên trái, y hệt lời ông Tám tả năm mươi năm về trước qua đường dây điện thoại lúc nửa đêm.
Trở ra Hà Nội, tôi lại vô ca trực. Đồng hồ chỉ hai giờ sáng, máy chủ vẫn rì rầm như cũ. Trên bàn có ai để lại tấm hình ông Tám Bưởi mới gửi ra – cái gò đất giờ san phẳng, chỉ còn cây chổi lá dựng chơ vơ một góc, chẳng còn nấm mộ nào nữa.
Chuông lại reo. Đèn xanh lại nhấp nháy.
Tôi đeo tai nghe, hít một hơi:
– Tổng đài Chiến dịch 500 ngày đêm xin nghe! Tôi là sĩ quan tiếp nhận mã số 408, xin nghe ạ!
Đầu dây là giọng một cựu chiến binh Đường 9, Quảng Trị, kể về một cái tên giữ trong bụng suốt nửa đời người. Tôi vừa ghi vừa liếc sang tấm hình cái gò đất trống, lòng thầm nghĩ: Đất nước mình rộng vậy mà hóa ra chỗ nào cũng có một gò, một huyệt, một người già còn thức đợi tới phiên mình được gọi tên. Cái ánh đèn xanh trên bàn cứ nhấp nha nhấp nháy, giống hệt cái đốm sáng ông Tám Bưởi hay thấy nơi đầu gò những đêm mưa gió chập chờn mà không tắt, cứ đợi, cứ đợi, cho tới khi có người tìm ra tới nơi.
MAI HOÀNG

