Những viên gạch quý

(VNGL – Truyện ngắn). Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, anh và em của ông đi tập kết, ông ở lại quê nhà. Nhưng vì “dính líu” đến Việt Cộng, năm 1962, gia đình ông bị cưỡng ép đi “dinh điền” dưới chân đèo Mang Yang. Một năm thì ông quyết định thoát ly, tham gia cách mạng. Ngày giải phóng, ông tham gia tiếp quản Ty Y tế tỉnh Gia Lai và công tác tại đó được một thời gian thì xin về Quy Nhơn, làm việc tại một cơ quan báo chí của tỉnh nhà.

Sau bao năm dành dụm, ông cũng mua được ngôi nhà. Đó là một ngôi nhà nhỏ chừng hai lăm mét vuông, nền xi măng, có gác xép lót bằng ván ép, mái lợp tôn, nằm sâu trong hai lớp hẻm rộng chưa đầy mét. Nhà thấp hơn mặt đường nên mùa mưa nước ứ tràn vào, phải chuẩn bị sẵn mấy cái bao cát để ngăn nước.

Về công tác tại cơ quan báo, ông được phân công làm Trưởng phòng Tổ chức – Hành chính. Ông vốn hiền lành, ít nói và hầu như chưa bao giờ nặng lời với ai. Mọi người thường bảo ông “hiền như cục đất”. Thế nhưng ông lại có cái nhìn rất tinh và những nhận xét khá chính xác về từng người trong cơ quan. Ông đặc biệt trân trọng những ai làm được việc và không tiếc lời khen dành cho họ. Ông hay nói với con trai rằng: người này giỏi, người kia còn trẻ mà đã có tài. Dường như qua câu chuyện về những con người cụ thể, những tấm gương sống động, ông muốn nhắc con trai phải luôn nỗ lực. Và người ta cũng chưa từng nghe ông chê bai một ai. Nếu có điều gì không vừa ý, ông cũng chỉ lặng lẽ giữ trong lòng.

Tính ông rất tiết kiệm. Đồ đạc trong nhà có cái đã cũ rích, thậm chí hư hỏng nhưng ông không cho bán “ve chai”. Ngay cả đôi xăng-đan, của để dành “lên cơ quan” đã mòn vẹt, tróc xi, đứt quai, ông vẫn không nỡ bỏ đi dù đã mua đôi mới. Ông rất thương người, luôn quan tâm và sẵn lòng giúp đỡ họ trong điều kiện có thể.

Có lần ông đi làm về, lấy từ túi ngực một điếu thuốc Đà Lạt (loại thuốc châm đầu nào cũng được) rồi mới treo áo lên móc. Thấy ánh mắt ngạc nhiên của con trai, ông nói:

– Của một cậu đến xin việc. Chắc là phải dành dụm mới đủ tiền mua cả gói Đà Lạt tới gặp Trưởng phòng Tổ chức. Ba không biết hút, nhưng từ chối thì cậu ấy sẽ thất vọng nên rút một điếu.

Cậu sinh viên ấy được nhận vào thử việc, rồi dần dần trở thành phóng viên chính thức. Con người ông là vậy, luôn thấu hiểu và tôn trọng người khác. Trong số những người trẻ do ông lựa chọn, tuyển dụng, nhiều người đã trưởng thành, trở thành những cây bút được bạn đọc quan tâm.

Một hôm, ông đi làm về, tay cầm theo mấy viên gạch. Đó là loại gạch hoa lát sàn, cỡ 20x20cm, đã cũ.

Anh con trai hỏi:

– Ba lấy về làm gì vậy?

Ông đáp:

– Ba thấy bỏ nên tiếc cầm về.

Thì ra cơ quan báo lúc ấy đang sửa chữa, thay mới nền gạch cũ đã lâu ngày bẩn thỉu, nhếch nhác. Những viên gạch cũ được cạy lên, đổ thành đống: có viên còn nguyên, có viên gãy đôi, gãy ba, có viên nát vụn. Đống xà bần ấy chờ xe ba gác chở đi đổ, ông thấy vậy nên lựa ra được bốn viên còn nguyên vẹn mang về nhà. Nhưng nền nhà ông tráng xi măng, bốn viên gạch ấy cũng không “vá” được chỗ nào. Ông vẫn để bốn viên gạch đó trong góc nhà. Nhà vốn đã chật, lại nhường bớt một phần diện tích cho mấy viên gạch, thật chẳng dễ chịu. Mỗi lần quét dọn, người nhà ông lại phải cẩn thận di chuyển chúng sang một bên, quét xong, đặt trả về vị trí cũ. Vậy mà những viên gạch ấy ông vẫn nâng niu. Có lẽ thời bao cấp, ai cũng thiếu thốn, nên người ta thường chắt chiu, gìn giữ cả những thứ đã cũ kỹ, gần như không còn giá trị sử dụng bởi trong đó chất chứa biết bao vất vả, nhọc nhằn…

Một hôm, khi ông đi làm về, thấy ông buồn. Anh con trai hỏi:

– Hôm nay có chuyện gì sao ba?

Thoáng trầm ngâm, rồi ánh mắt ông dừng lại nơi mấy viên gạch. Sau này anh con trai mới biết, “mấy viên gạch” đã thành đề tài trong một cuộc họp chi bộ cơ quan. Cuộc họp vốn không có nội dung liên quan, nhưng bất ngờ có người đứng lên phát biểu rằng đống gạch tuy là đồ bỏ, song chừng nào còn nằm trong khuôn viên cơ quan thì vẫn là của công; vì vậy, ông bị cho là đã lấy của công. Cả phòng họp rộ lên những tiếng xì xào. Có người khẽ “Ơ…” đầy ngạc nhiên; có người bảo: “Đồ bỏ đi mà!”; lại có người bức xúc: “Phát biểu gì mà nặng nề thế!”. Giữ vẻ bình tĩnh, ông chậm rãi trình bày lại toàn bộ sự việc: chỉ vì thấy tiếc của nên mang về, nhưng rồi cũng chưa dùng vào việc gì; nếu cơ quan yêu cầu, ông sẵn sàng đem trả lại. Chi bộ nghe xong cũng không đi đến một kết luận cụ thể nào. Thế nhưng, trong lòng ông vẫn thấy bị tổn thương.

Minh họa: Lê Duy Khanh

Ông buồn. Buồn vì không ngờ mấy viên gạch bỏ đi lại trở thành cớ để có người đem chuyện ấy ra trước chi bộ; và buồn hơn nữa, bởi người đồng chí mà bấy lâu ông luôn trân trọng dường như đã quay mặt!

Ông kể rằng chiều hôm ấy về muộn. Lúc cúi xuống nhặt mấy viên gạch, một người trong cơ quan trông thấy và thành cơ sự cho câu chuyện trong cuộc họp. Hai người trạc tuổi nhau. Ở cơ quan, người đó vốn hay to tiếng, lại có tật “đâm bị thóc thọc bị gạo”, nên anh em cũng e dè, ngại tiếp xúc…

Những viên gạch ấy ông vẫn giữ lại như một kỷ niệm. Năm 1989, sức khỏe ông sa sút dần – di chứng của những cơn sốt rét rừng năm xưa vẫn âm ỉ hành hạ. Thêm vào đó, ông cũng không còn nhiều hứng thú với công việc, nên đã xin nghỉ hưu trước tuổi. Năm sau, hai ông bà thu xếp về quê sinh sống, nhường lại ngôi nhà ấy cho vợ chồng anh con trai.

Ông về quê, mấy viên gạch ấy vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Ngôi nhà nơi quê chỉ là căn nhà tranh nhỏ, rộng hơn gian bếp một chút, tường trét đất, nền cũng đất nện, nên càng không có chỗ nào để đặt mấy viên gạch ấy.

Ông rời thành phố về quê sống được một năm thì qua đời. Gia cảnh vốn đã nghèo, đến khi ông mất, trong nhà thậm chí không đủ tiền để mua một chiếc quan tài. Ở quê, bà con chòm xóm rất thương ba anh, họ đến viếng đông đủ, nhưng phần lớn chỉ thắp nén hương để tiễn biệt, bởi ai cũng khó khăn, không mấy người có thể giúp đỡ về vật chất.
Trong lúc bối rối nhất, may mắn thay có ông K – đại diện cơ quan ông – vượt hơn năm mươi cây số đến viếng và phúng điếu. Nhờ vậy, nhà mới có đủ tiền mua một cái quan tài ghép từ sáu tấm ván bằng gỗ xoài, loại gỗ rẻ nhất ở quê ông.

Mấy năm sau, gia đình anh con trai xin được vào ở trong khu tập thể của cơ quan. Ngôi nhà cũ đành bán đi để lo cuộc sống. Nhưng có một thứ không thể bán, cũng không nỡ rời bỏ: mấy viên gạch cũ mà ông để lại. Anh con trai mang chúng theo đến nơi ở mới, đặt nằm gọn trong một góc, đúng vị trí như chúng từng nằm trong căn nhà xưa và coi nó như một phần ký ức, là chút gì còn sót lại của người cha quá cố trong căn nhà ấy.

Về sau, anh con trai may mắn được phân đất ở, lại bốc thăm trúng lô đất, cũng nằm trong hẻm, rộng khoảng tám mươi mét vuông. Anh mừng lắm. Ngôi nhà mới được xây hai tầng, mái lợp tôn, sàn lát gạch hoa văn màu xanh. Anh cố tình chọn loại gạch kích thước 20x20cm cho trùng với kích thước của những viên gạch cũ kia. Bốn viên gạch ấy được đặt ngay giữa gian phòng khách. Tuy đã cũ, song với hoa văn màu mận chín, loại nay không còn sản xuất, khiến chúng nổi bật giữa nền gạch mới, tạo thành một điểm nhấn rất riêng. Ai bước vào cũng trầm trồ khen đẹp và… độc lạ!, nhưng chỉ mình anh con trai của ông biết, đó là cách anh giữ lại người cha trong ngôi nhà mới của mình.

Đã ba mươi lăm năm trôi qua, căn nhà ấy với nền gạch hoa ấy vẫn như ngày nào. Ngôi nhà như một người bạn tri kỷ, âm thầm che chở gia đình anh qua những mùa mưa gió, là nơi anh đi về suốt ba mươi lăm năm, từ những ngày còn là một cán bộ bình thường cho đến khi đảm nhiệm những trọng trách của tỉnh.

Mỗi lần nhìn những viên gạch cũ, anh lại nhớ về người cha – người từng sống trong rừng sâu, bị bệnh tật giày vò, và đã để lại cho anh một gia tài vô giá, sự điềm tĩnh và tấm lòng bao dung. Anh xem những viên gạch “không giống ai” ấy chính là NHỮNG VIÊN GẠCH QUÝ – một kỷ niệm buồn, thấm đẫm những giọt nước mắt của cha.

NGUYỄN HỮU BÁCH

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Chiếc vòng Chuê Nuê

Buôn M’Ling nằm lọt thỏm giữa con đường độc đạo từ quốc lộ đi vào sâu trong núi. Đỉnh Chư Mân sừng sững che khuất những tia nắng cuối ngày…

Những mùa xuân nối tiếp

Mùa xuân vẫn về qua cây cầu vắt ngang sông. Một khúc sông rộng đủ để những chuyến đò ngang bối rối, chênh chao…

Bụi tường vi trong mưa xuân

Chiều cuối năm. Trời âm u, gió mang hơi lạnh từ biển. Ông chống gậy, bước chậm rãi qua cổng. Mùi đất ẩm ùa lên, quen thuộc đến nao lòng. Ngôi nhà cũ vẫn đó…

Đua ngựa

Ở Sà Chìn ai chả biết A Bảo là tay thuần dưỡng ngựa vào loại độc nhất vô nhị. Anh ta sành sõi chuyện tìm mua những con ngựa hởi lông vàng, ngựa kim đen trắng với giá bèo