(VNGL – Truyện ngắn). Thầy Bảy Trầm sống thật khác người. Quanh năm lão mặc duy nhất quần áo vải màu trắng, đội nón Gò Găng và đi guốc mộc. Ngày còn làm ruộng hưởng công điểm của hợp tác xã nông nghiệp, lão đứng giữa đồng như cánh cò trắng phau. Đôi tay lão cuốc, băm đất còn dẻo lắm. Thời ấy nói như bây giờ thì lão cũng là người nổi tiếng. Nổi tiếng vì biết bốc thuốc Bắc cho khách hàng uống nhanh lành bệnh. Nghề tay trái của lão là coi ngày, giờ cho người ta cất nhà, cưới hỏi, ma chay… Nghe nói lão viết chữ Nho như rồng bay, phượng múa. Thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ mời lão làm lý trưởng nhưng lão kiên quyết chối từ. Giờ lão đã 95 tuổi nhưng còn đi đứng vững vàng, nói năng minh mẫn lắm. Trong các loại thầy loạn cào cào: Thầy bói, thầy pháp, thầy dùi… thì thầy thuốc, thầy coi ngày như lão Bảy Trầm được người đời tôn vinh. Thầy Bảy Trầm còn nổi tiếng nhưng cái sự nổi tiếng của lão làm cho mấy gã cò đất tức điên lên. Xã An Đông có những mảnh đất ngày trước khỉ ho cò gáy. Đất cứng như sỏi đá, trồng cây gì cũng èo uột như trẻ em da ỏng xanh vì bị giun, sán lâu ngày. Giờ An Đông thay áo thành thị xã mảnh đất chừng vài trăm mét vuông cũng hét giá cả tỷ đồng. Đất vườn, nhà của thầy Bảy Trầm hơn hai ngàn mét vuông, sau đợt mở đường liên tỉnh bỗng thành kim cương. Lão không tiếp khách ở lứa tuổi làng nhàng, anh không ra anh, chú không ra chú. Vậy mà họ không được lão mời cứ mon men tới tần ngần ngoài sân. Lão phát đi thông điệp nhà lão đang ở là nhà từ đường, nơi hương linh ông bà trú ngụ. Đất vườn nhà lão là của ông cố, ông cao để lại, lão chỉ biết gìn giữ cho đời sau. Mấy gã cò đất nghe vậy văng tục: “Mẹ kiếp! Lão già dở hơi! Nghĩa trang phát giấy đòi nợ còn ôm khư khư đất nhà!”. Coi như chúng nó chửi cho chúng nó nghe chán rồi thôi chứ có ai dám mách cho lão Bảy Trầm đâu. Mà sự dèm pha, đàm tiếu của thiên hạ làm sao lung lay được một ông già đã sống qua nhiều chính thể. Đối với lão Bảy Trầm cốt cách thì thuần phong mỹ tục là thứ thiêng liêng nhất. Ngôi nhà lão đang hương khói ông bà họ Trần tuổi thọ hơn hai trăm năm mái ngói âm dương, kèo, cột điêu khắc long, lân, quy, phượng rất chi là tinh xảo. Bọn cò đất ở dưới đất nẻ chui lên hay từ trên trời rơi xuống sao không biết giá trị nguồn gốc của con người nhỉ? Cái tin bọn cò đất trả giá vườn, nhà thầy Bảy Trầm trọn gói ba mươi tỷ đồng cũng đến tai lão qua con cháu dâu hám tiền. Lão biết nó nhảy đứng nhảy ngồi khi tưởng tượng một núi tiền polymer sẽ hiện ra nếu lão cho bọn cò đất cái gật đầu. Chắc là ngày đêm nó xúi giục thằng chồng (cháu đích tôn của lão) đại loại: “Anh thuyết phục nội bán quách nơi này kiếm ba mươi tỷ lên phố mua nhà ở cho sướng cái thân!”. Cháu ông hiền lành nhưng phải cái tội cộc cằn: “Cô có im cái miệng đi không? Nhà, đất của nội ổng tự định đoạt. Tui mà xía vô, ổng đập cho một trận nên thân chứ đùa à?”.
***
Ông Ngâm (con cả của thầy Bảy Trầm) sau năm 1975 làm Thành đội trưởng được cấp nhà lầu ba tầng ở thành phố. Đến tuổi nghỉ hưu, ông giao ngôi nhà lại cho ngành tài chính để về quê xây ngôi nhà cấp bốn trên đất cha mình. Ngày ông cưới vợ cho thằng Ngợi, con Luyến (dâu ông Ngâm) nghĩ thế nào cũng theo gia đình chồng lên phố sống. Nó nở mày nở mặt, đi đâu cũng khoe: “Cha chồng mình là trung tá Thành đội trưởng đấy ạ!”. “Con dâu tính không bằng cha chồng tính”, đùng một cái vị sĩ quan thanh liêm trả nhà, về quê. Con dâu mặt ỉu xìu như người mất sổ gạo. Chồng cô thì vô tư giống cha. Ở đâu mà chẳng được. Lên phố biết làm chi để sống? Vô lẽ cứ ngồi nhìn ra đường thấy xe cộ tấp nập mà no hay sao? Về quê còn nuôi được con heo, con gà. Rảnh thì bỏ mấy tay lưới bén lên xuồng thả dọc bờ sông là có món tươi mát trong bữa ăn như người ta. Lương hưu của ông Ngâm đủ trang trải cho vợ chồng già mà không cần sự viện trợ của con cháu. Có lần Ngợi ngồi nhìn lên vách tường treo ảnh các vị nguyên thủ quốc gia và vô số ảnh các bạn cựu chiến binh của cha, kế bên là các huân, huy chương, kỷ niệm chương được lồng trang trọng trong khung kính nền vải đỏ thì thích chí cười cười: “Ông nội thì lúc nào cũng mân mê cuốn truyện Lục Vân Tiên, lại còn mua vở và bút lông về chép lại chứ sợ ố vàng mất gốc, còn cha thì lo lau chùi các bức ảnh làm như nó biến đi đâu vậy?”. Ông Ngâm nhìn con, cười xòa: “Thế mày có biết vì sao ông nội đặt tên cho mày là Ngợi không?”. Ngợi chưng hửng. Thật tình Ngợi chưa từng nghĩ đến cái tên của mình có ý nghĩa như thế nào. Ông Ngâm không để con suy nghĩ lâu. Ông xoa đầu Ngợi như xoa đầu nó hồi còn bé: “Cha là Ngâm thì con phải là Ngợi chứ sao? Ông nội mày hay ngâm ngợi thơ Lục Vân Tiên, truyện Kiều đó!”. Ngợi cười giòn tan: “Ngâm nga mới hay chứ cha?”. Ông Ngâm hạ giọng như nói với chính mình: “Truyện Lục Vân Tiên, truyện Kiều ý nghĩa sâu xa lắm, không ngâm nga để tự thưởng thức cho thỏa mãn ý mình được đâu!”. Thế giới riêng của nội là nhà từ đường mỗi trưa ông nằm vắt chân chữ ngũ ngâm thơ giọng trầm đục, ngón chân cái ông cứ lúc lắc trông thích thú. Còn thế giới riêng của cha là căn phòng đầy ắp kỷ niệm thời kháng chiến vào sanh ra tử.

Mỗi lần có khách quý đến chơi, ông thường đưa vào gian phòng như cái bảo tàng thu nhỏ ngồi thưởng trà. Người ta làm cán bộ chăm chỉ lo biệt thự, xe ô tô đời mới, còn ông chăm chút cái đẹp tinh thần. Một lần con dâu ông lấp ló bên “phòng truyền thống” cười cợt: “Gia tài của cha rồi ai thừa kế đây nhỉ? Người ta làm cán bộ mà giàu lên, còn cha thì ôm khư khư mấy cái huy chương!”. Ông Ngâm trợn mắt: “Cô lại đây tôi bảo!”. Cha chồng khách sáo kéo ghế đẩu mời con dâu, giọng gay gắt: “Cô dè bỉu tôi phải không? Cô nghĩ tôi già mà dại không biết làm giàu trên xương máu đồng đội chứ gì?”. Chưa bao giờ con dâu thấy cha chồng giận dữ đến mức môi run run, mắt sòng sọc. Cô ngồi im thin thít không dám thở mạnh. Cơn giận của ông Ngâm qua đi: “Con là dâu của ta không thể ăn nói hồ đồ như vậy được! Cha có làm con xấu mặt không? Con có thấy vợ con của quan tham bước ra đường không dám ngẩng mặt lên nhìn thiên hạ chưa? Cha biết con bất mãn chuyện cha trả nhà ở trên phố và không bán đất này nhưng con nghĩ đi! Ông nội và cha có lột vỏ sống đời đâu? Tất cả nhà cửa, đất đai rồi cũng thuộc về tụi con…”.
***
Thầy Bảy Trầm ngồi bấm đốt ngón tay gật gù: “Cuối cùng rồi mặt tiền phố xá cũng thuộc về tầng lớp thượng lưu. Dân nghèo rốt cuộc phải lùi về phía sau nhường chỗ đẹp cho người ta hết!”. Luyến, cháu dâu ông len lén nhìn cha chồng rồi lớn tiếng: “Sao phải bán đất, bán nhà cho bọn nhà giàu hả ông? Ông cháu mình sống ở chỗ đất vàng như vầy thì người ta mới kính nể ông ạ!”. Lão Trầm lấy làm lạ! Hôm nay đứa cháu dâu ông ăn trúng thứ gì mà phát ngôn nghe cao siêu thế? Ông Ngâm hiểu ý quay mặt chỗ khác cười nụ. Còn Ngợi thì nhìn vợ, miệng há hốc. Chàng ta không tin cô vợ hám của bỗng dưng giác ngộ như được Quán Thế Âm Bồ Tát độ trì. Bao nhiêu năm sống chung với Luyến là bấy nhiêu năm Ngợi bị vợ chì chiết, giày vò chuyện con cả, cháu đích tôn mà không có quyền sở hữu tài sản để đổi đời như người ta. Đối với Ngợi, ông nội và cha là những tấm gương sáng mà chàng kính phục, yêu quý chứ chưa nói đến lòng hiếu thảo của chàng dành cho họ. Mỗi lần người ta hỏi về gia thế, Ngợi bảo là cháu của thầy Bảy Trầm, con của ông Ngâm cựu chiến binh là ai cũng gật gù với ánh nhìn ấm áp: “Ôi! Cháu của thầy Bảy bốc thuốc Bắc mát tay đây ư? Chú (cô, bác, chị) ngưỡng mộ cụ nhiều lắm! Còn cha cháu là người lính gan dạ sống thanh bạch, mẫu mực! Cho chú (cô, bác, chị) gởi lời chúc sức khỏe nhé!”. Luyến đâu cảm nhận được hạnh phúc khi gia đình mình được người ta trọng vọng như vậy. Hôm nay Ngợi thấy vui lắm! Niềm vui như hũ rượu quý chưng cất chôn xuống đất lâu ngày giờ được đào lên, mở ra thơm lừng. Nhất là khi nghe nội bộc bạch: “Nội biết tụi con bức bối chuyện bán đất để đổi đời. Nội chỉ sống ngày sống bữa, không biết lúc nào về với ông bà. Khi nội đi rồi thì thằng Ngợi bán đất nhưng nhất định phải giữ lại ngôi nhà từ đường để hương khói cho vong linh ông bà đỡ tủi!”. Ông Ngâm nhìn cha, mím môi đè nén cảm xúc: “Cậu (cha) đừng lo chi cả! Hôm qua, con dự họp ở phường, ngành văn hóa, thể thao, du lịch thị xã đã có đề án xin giữ ngôi nhà từ đường của mình lâu dài để bảo tồn di sản văn hóa đó!”. Thầy Bảy Trầm xua tay lia lịa: “Không được đâu con! Cậu không cho phép họ làm càn như vậy! Nhà mình sao người ta giành giữ?”. Anh con trai bật cười hì hì: “Họ mua ngôi nhà mình năm trăm triệu rồi giao lại cho thằng Ngợi ở trông coi lâu dài thì có khác gì nhà mình đâu cậu. Đó là chưa nói du khách sẽ đến tham quan thường xuyên. Ông bà, dòng họ nhà mình không thấy thơm lây hay sao?”.
***
Gã cò đất dắt theo đám đàn em ăn mặc quần áo rằn ri dị hợm. Riêng gã đeo trên cổ sợi dây chuyền vàng Tây như sợi dây neo thuyền. Gã bô bô cái miệng rồi cười nhếch mép: “Tôi đã nói đất sốt giá bán liền tay nhận đống tiền lên phố sống cho oai, vậy mà cứ lần lữa chán thấy mẹ! Ông Ngợi à! Ông thuyết phục cha ông bán nốt ngôi nhà cấp bốn rồi xây nhà lầu ở cho mát! Ông thấy sao?”. Không đợi chồng trả lời, Luyến nói chắc như đinh đóng cột: “Chúng tôi không bao giờ bán ngôi nhà mà cha mẹ chồng tôi đang sinh sống với bao kỷ niệm đời người. Đây là ngôi nhà từ đường mà vợ chồng, con cháu của chúng tôi sẽ gìn giữ mãi mãi. Xin ông đừng can thiệp quá sâu vào chuyện của người khác!”. Chàng cán bộ tài nguyên – môi trường của phường nãy giờ ngồi nghe cuộc đối thoại thấy trái tai: “Ông anh mua gần hết đất đai của cụ Bảy còn muốn cò kè gì nữa? Cụ Bảy cũng vì thương con, thương cháu mà không đành lòng giữ lại số đất của đời trước. Tôi biết cụ xót xa lắm! Đừng xúi người ta nữa ông ơi!”. Gã cò đất chẳng những không phật ý câu nói của vị cán bộ địa chính phường mà còn xun xoe: “Anh nói chí phải! Tôi mua được đất này cũng nhờ anh ủng hộ. Tôi xin nghe theo lời chỉ bảo của anh! Anh Ngợi, chị Luyến đừng buồn tôi nghe!”. Ngay khi ấy trong nhà từ đường bên cạnh vọng ra giọng ngâm thơ truyện Kiều của thầy Bảy Trầm nghe buồn man mác:
Bốn phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà…
TRẦN QUỐC CƯỠNG



