Địa danh Cầu Đôi trong thư tịch và tâm thức dân gian

(VNGL – Đất và người Gia Lai). Giữa không gian đô thị hiện đại của Quy Nhơn, Cầu Đôi vẫn hiện diện như một biểu tượng quen thuộc gắn với ký ức văn hóa địa phương. Không chỉ là một địa điểm giao thông nằm cạnh Tháp Đôi, địa danh này còn lưu giữ nhiều lớp trầm tích lịch sử từ thời Tây Sơn đến triều Nguyễn. Qua các thư tịch cổ như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, có thể thấy tên gọi “Cầu Đôi” đã tồn tại trong dân gian từ rất sớm, trước cả khi người Pháp xây dựng tuyến đường sắt Quy Nhơn – Diêu Trì vào đầu thế kỷ XX.

Từ phòng tuyến Tây Sơn đến địa danh trong sử sách
Ngày nay, nhắc đến Cầu Đôi, nhiều người thường nghĩ đến cây cầu đường bộ nằm song song với cầu đường sắt nối từ ga Diêu Trì xuống cảng Quy Nhơn. Hai cây cầu nằm cạnh nhau, lại kề bên Tháp Đôi cổ kính của người Chăm, tạo nên hình ảnh “đủ cặp đủ đôi” rất đặc biệt trong không gian đô thị Quy Nhơn. Chính điều đó đã đi vào ca dao dân gian: “Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi/ Vật còn đèo bòng duyên lứa, huống chi tôi với nàng”.

Lâu nay vẫn có quan niệm cho rằng địa danh Cầu Đôi chỉ xuất hiện từ khi người Pháp xây dựng đường sắt vào khoảng thập niên 1920 – 1930. Tuy nhiên, đối chiếu các thư tịch triều Nguyễn cho thấy địa danh này đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Trong các cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và lực lượng Nguyễn Ánh, khu vực này được ghi nhận với tên gọi Tân Hội kiều (Cầu Tân Hội). Sách Đại Nam thực lục nhiều lần nhắc đến phòng tuyến cầu Tân Hội như một vị trí quân sự trọng yếu trong cuộc chiến giữa quân Nguyễn và quân Tây Sơn. Năm 1793, sau khi phá vỡ phòng tuyến cầu Tân Hội, Võ Tánh tiến quân đánh Nguyễn Văn Bảo tại cánh đồng Bình Thạnh. Địa điểm Bình Thạnh ngày nay tương ứng khu vực từ ngã ba Ông Thọ đến Chợ Dinh, cho thấy cầu Tân Hội nằm về phía hạ lưu, tức khu vực Cầu Đôi hiện nay.

Cầu Đôi trong những năm tháng trước đây. Ảnh nguồn: Qui Nhơn xưa

Trong giai đoạn chiến sự ác liệt từ năm 1800 đến năm 1801, khu vực cầu Tân Hội tiếp tục giữ vai trò là vị trí quân sự trọng yếu bảo vệ thành Bình Định. Tháng 4 năm 1800, Nguyễn Ánh đưa đại quân ra cứu viện cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đang cố thủ trong thành nhưng vấp phải sự chống trả quyết liệt của lực lượng Tây Sơn do Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng chỉ huy. Sau trận thủy chiến lớn ở Thị Nại đầu năm 1801, quân Nguyễn đổ bộ lên Chợ Giã (Quy Nhơn) rồi mở nhiều đợt tiến công vào hệ thống phòng tuyến của Tây Sơn ở khu vực phía Bắc thành. Đến tháng Ba năm ấy, cánh quân của Lê Văn Duyệt trực tiếp giao chiến tại cầu Tân Hội. Đại Nam thực lục, tập 1 có chép: “Tướng giặc Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng sai đồ đảng đặt đồn bảo liên tiếp ở Phú Hòa, cầu Đông Giang, cầu Tân Hội để chống cự quân ta. Vua sai Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Khiêm đem quân đánh… quân giặc tán loạn, bắt được Đô đốc Nguyễn Bá Phong. Vệ úy Vệ Ban Trực tả là Võ Văn Tài trúng đạn chết ở đồng Bình Thạnh, sau tặng Chưởng cơ”. Đặc biệt, tài liệu còn mô tả việc Nguyễn Ánh cho lập hệ thống tín hiệu quân sự trên núi Hưng Thạnh – tức khu vực núi Tháp Đôi ngày nay – để quan sát và phối hợp tác chiến: “Ban ngày treo cờ hiệu ở trên núi, ban đêm đốt đài lửa hiệu để biết mà tiếp ứng nhau”. Chi tiết ấy cho thấy toàn bộ khu vực quanh Cầu Đôi – Tháp Đôi từng là không gian quân sự chiến lược trong giai đoạn cuối của cuộc chiến Tây Sơn – Nguyễn.

Cầu Đôi – dấu vết trong thư tịch triều Nguyễn
Một điểm đáng chú ý là các địa chí triều Nguyễn không chỉ ghi tên hành chính cầu Tân Hội, mà còn xác nhận tên gọi dân gian “Cầu Đôi”. Đại Nam nhất thống chí (Bản Tự Đức) viết: “Cầu Tân Hội: ở chỗ hết nước của đầm Biển Cạn thuộc huyện Tuy Phước, tục gọi là Cầu Đôi”. Đây là một ghi chép rất quan trọng, bởi nó chứng minh rằng tên gọi Cầu Đôi đã phổ biến trong dân gian ít nhất từ đầu triều Nguyễn.

Cầu Đôi hiện nay. Ảnh M.N

Trước đó, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định biên soạn đầu thế kỷ XIX cũng ghi nhận: “Đến cầu Tân Hội, cầu dài 23 tầm, tục gọi là Cầu Đôi, đây là chỗ cuối của đầm Biển Cạn”. Đầm Biển Cạn chính là tên gọi xưa của đầm Thị Nại. Còn Phú Hòa Đông là tên cũ của làng Phú Hòa. Những dữ kiện này cho phép xác định khá rõ vị trí của cầu Tân Hội trong hệ thống địa lý cổ Quy Nhơn. Như vậy, trước khi trở thành một địa danh đô thị hiện đại, địa danh Cầu Đôi đã tồn tại trong ký ức cộng đồng như một tên gọi dân gian quen thuộc, song hành cùng tên hành chính trong thư tịch nhà Nguyễn.

Biểu tượng văn hóa trong tâm thức người Bình Định
Không chỉ hiện diện trong sử sách, Cầu Đôi còn sống rất sâu trong tâm thức dân gian Bình Định. Hình ảnh cây cầu nằm cạnh Tháp Đôi dần vượt ra ngoài ý nghĩa địa lý đơn thuần để trở thành biểu tượng của sự gắn bó, thủy chung và nhân nghĩa. Trong cảm thức dân gian, “đôi” không chỉ là hình ảnh vật thể mà còn gợi sự đồng hành, bền chặt: “Cầu Đôi mà Tháp cũng Đôi/ Dễ chi nhân nghĩa mà dời được sao”. Có lẽ chính vì vậy mà qua hàng trăm năm biến động lịch sử, địa danh Cầu Đôi vẫn được lưu giữ bền vững trong đời sống ngôn ngữ của cư dân địa phương. Từ một phòng tuyến quân sự thời Tây Sơn, nơi đây dần trở thành không gian ký ức văn hóa của đô thị Quy Nhơn.

Ngày nay, giữa nhịp sống hiện đại, Cầu Đôi không chỉ là nơi kết nối giao thông mà còn là một địa danh ký ức, nơi giao thoa giữa lịch sử, thư tịch cổ và tâm thức dân gian Gia Lai. Qua những trang sử cũ và những câu ca còn lưu truyền, địa danh ấy tiếp tục kể câu chuyện về chiều sâu văn hóa của vùng đất võ trời văn bên đầm Thị Nại.

TS. VÕ MINH HẢI

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Hoa anh đào Vĩnh Sơn

Mùa hoa anh đào ở Vĩnh Sơn thường vào tháng Hai, tháng Ba hằng năm. Vào mùa này, khắp bản làng đều rực rỡ sắc hoa…

Thâm nghiêm Thập Tháp Tổ đình

Tôi thăm chùa Thập Tháp bằng niềm háo hức của người ngoạn cảnh đến với danh lam. Nhưng dư âm về ngôi chùa cổ cứ bảng lảng như tiếng chuông đồng ngân vang…