(VNGL – Truyện ngắn). Cách độ vài hôm, cứ vào khoảng xế chiều là lão lại ghé sang nhà tôi. Ban đầu, lão chỉ lân la hỏi chuyện:
– Bố mẹ mày đi làm chưa về à?
Dĩ nhiên, lão biết thừa giờ ấy làm gì bố mẹ tôi đã có mặt ở nhà. Nhưng rồi, lão cũng nhanh chóng đi vào chuyện chính. Lão chìa ra cái cốc thủy tinh to, loại người ta vẫn dùng để uống nước chè vối, và bảo:
– Có rượu không, cho chú xin ít!
“Ít” theo cách của lão thì cũng phải nửa cốc, mà nếu rộng tay rót thì cũng ngót nghét đến lưng. Nhưng điều đáng nói không phải ở chỗ đó, mà ở cách lão uống rượu. Rượu đế nặng, đốt lên còn bốc lửa xanh lè, vậy mà lão chỉ ngửa cổ, đánh cái ực, cạn luôn. Không nhăn mặt, không nhíu mày, như thể chỉ vừa uống cốc nước mát sau một buổi trưa nắng. Tôi đồ rằng lão nghiện rượu nặng, hoặc tệ hơn, cơ thể lão chẳng còn cảm giác gì với rượu nữa.
Nhưng lão không lè nhè. Uống xong là đứng dậy chào, đi thẳng. Dáng lão đậm, bước đi dứt khoát, lững thững khuất dần nơi ngõ nhỏ. Vợ lão mất cũng gần một năm nay rồi. Nghe kể, hôm ấy lão chở vợ đi đám giỗ, đang bon bon trên đường thì một chiếc xe tải từ phía sau vượt ẩu, lấn làn bên trái, ép sát xe máy của lão. Thân trước của xe tải quệt mạnh vào gương bên trái khiến xe lão mất thăng bằng. Xe đổ, người ngã. Vợ lão ngồi sau bị hất văng ra đường, rồi bị cuốn vào gầm xe tải. Một cái chết tức tưởi và đau đớn. Lão thì ngã dúi theo xe, trượt dài vào lề đường, người bê bết máu nhưng may mắn chỉ xây xát ngoài da. Lão sống. Từ đó, một mình gà trống nuôi hai đứa con. Thằng lớn năm nay đã học lớp mười một, thằng út mới học lớp năm.
Khi còn vợ, gia đình lão chẳng đến nỗi thiếu thốn. Thậm chí có phần khá giả là đằng khác. Vợ lão làm y sĩ ở bệnh viện huyện. Ngoài giờ hành chính, bà còn tranh thủ đi tiêm, truyền dịch, thay băng và bán thuốc cho người bệnh tại nhà. Nhờ thế mà ngoài đồng lương cố định mỗi tháng, còn có thêm thu nhập phụ, đủ để xoay xở và dành dụm. Lão cũng không ngồi yên. Mở một quầy nhỏ làm đại lý phân bón hữu cơ ở ngay gian nhà trước, kiêm bán nước đóng chai, thỉnh thoảng có người gọi thì chạy xe ôm. Nhà nằm ngay mặt đường quốc lộ, thuận tiện buôn bán, đi lại.
Thế nhưng, cái xóm nhỏ này chẳng thiếu chuyện để xì xào. Người ta cứ kháo nhau rằng lão “nuôi con tu hú”, rằng hai thằng con chả đứa nào là máu mủ ruột rà với lão. Mấy lời đồn ấy chẳng ai dám nói thẳng mặt, nhưng lão biết cả. Biết hết. Vậy mà lão chẳng một lần thanh minh, chẳng một câu phân bua. Lặng lẽ sống, lặng lẽ nuôi con, lặng lẽ chịu đựng. Mà lão biết nói gì bây giờ, giữa cái thế “ngậm bồ hòn làm ngọt” như đời mình?

Lão quê ở tận Quảng Bình. Hồi chiến tranh biên giới những năm tám mươi, lão nhập ngũ, chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên. Cầm cự được hơn một năm thì bị thương. Ra quân, lão mang về vết thương cùng tấm thẻ thương binh hạng ba trên bốn. Trở lại quê nhà, lão được hợp tác xã sắp xếp cho làm chân thu mua ở cửa hàng mậu dịch xã. Có lần được phân công ra ngoài Bắc thu mua nông sản cứu đói cho dân quê mình, lão gặp chị, một y sĩ, rồi phải lòng. Cưới nhau xong, lão ở lại luôn quê vợ, nơi cuối đất xứ Thanh, một thị trấn ven biển lộng gió và lặng thầm.
Nghe đâu ở quê cũ, bố mẹ lão đã khuất núi từ lâu. Người thân duy nhất còn lại chỉ có cô em gái, nhưng chị ấy cũng lấy chồng xa, mãi tận ngoài Hà Bắc. Thỉnh thoảng, lão lại khăn gói về quê cũ, mang cho xóm giềng ít quà quê, cây nhà lá vườn mà đượm tình đượm nghĩa. Tôi thích nhất món khoai dẻo lão hay mang ra, thứ đặc sản của đất Quảng. Một miếng nhỏ thôi mà nhằn tơi bời mới chịu bở. Khoai dai dẳng, quánh đặc nhưng ngọt thơm, cứ như gom cả nắng gió miền Trung vào trong từng thớ ruột.
Từ ngày vợ mất, cuộc sống của ba bố con lão khốn khó đi nhiều. Thu nhập từ cái cửa hàng phân bón cộng với vài cuốc xe ôm mỗi ngày, tằn tiện lắm mới vừa đủ chi tiêu. Không còn ai quán xuyến việc nhà, cũng chẳng còn ai lo toan những khoản lặt vặt thường nhật như ngày trước. Mọi thứ giờ dồn lên vai ba bố con, trong đó thằng lớn hiểu chuyện hơn cả. Nó đang học cấp ba, biết bố vất vả nên bỏ hết các lớp học thêm, học bớt, tự học ở nhà. Ngoài giờ ôn bài, nó còn kèm em học, lo cơm nước, giặt giũ, thu dọn nhà cửa. Nhiều hôm đi học về đã thấy nó loay hoay nấu ăn. Nhìn cảnh đó, lão vừa thương con, vừa xót xa.
Hai anh em nó, một trắng, một đen. Một tóc thẳng mượt, một tóc xoăn tít. Một cao ráo, một gầy gò, đen nhẳng. Một đứa mặt hiền lành, một đứa gầy quắt lại với đôi mắt hơi lồi ra. Nhìn vào, không ai nghĩ chúng là anh em ruột. Mà thực ra, chúng cũng chẳng phải con ruột của lão. Sợi dây gắn ba con người ấy lại với nhau, là mẹ chúng, là vợ lão, thì nay đã mất. Một sợi dây tưởng như đã đứt. Vậy mà, lạ thay, từ ngày vợ mất, tình cảm giữa ba bố con lại thêm phần gắn bó, lặng lẽ mà bền chặt như một sợi thừng cũ, xơ xước nhưng chưa từng đứt đoạn.
Thằng lớn học giỏi. Một lần, nó ngồi học, ngẩng đầu nói với lão:
– Năm sau con thi đại học Y. Con muốn làm bác sĩ.
Lão xoa đầu nó, chậm rãi bảo:
– Trường đó khó đấy. Nhưng con cố mà học.
Từ ngày mẹ mất, nó cũng kiêm luôn vai trò đầu bếp. Đi học về là nó tranh thủ đi chợ, nấu ăn, rửa bát, quét nhà. Gánh vác được chừng đó, cũng đã đỡ đần cho bố phần nào. Còn thằng út, nó còn nhỏ, vẫn nhớ mẹ nhiều. Đi học hay tủi thân, có hôm về nhà cứ thút tha thút thít mãi. Lão gặng hỏi, mãi sau nó mới mếu máo:
– Bạn nó trêu con, bảo con không cha, không mẹ…
Đắng lòng quá, lão chỉ biết ôm con vào lòng. Không nói được gì, mắt cứ cay xè.
Mấy bà hàng xóm cũng từng một dạo mối lái cho lão. Nhắm tới một bà trong xóm, chồng cũng mất sớm, hoàn cảnh hai bên “rổ rá cạp lại” xem ra khá tương đồng. Người ta bảo, nhà có bàn tay phụ nữ thì vẫn hơn là cảnh gối chiếc, chăn đơn. Phía bên kia cũng có ý ngả theo rồi. Thế nhưng lần nào có người mở lời dạm hỏi, lão cũng chỉ cười nhạt, lắc đầu mà bảo: “Chỉ làm khổ người ta thôi”. Nhiều lúc thấy lão lầm lũi khiêng từng bao phân bón chất lên chiếc xe máy cũ, chằng buộc bằng sợi dây chun đã nhão, rồi chạy đi giao hàng cho khách… lúc về lại ngồi một mình hút điếu thuốc lào, mặt buồn rầu theo làn khói trắng bay lên, người ta lại thấy thương thương.
Năm sau, thằng con lớn đỗ đại học. Nó thi đậu vào trường Y ở Huế, đúng ước mơ từ lâu của nó và cũng là niềm hy vọng lớn nhất của lão. Ngày nó nhập học, lão không tiễn con ra tận trường được. Chỉ lặng lẽ gói ghém đồ đạc, dặn dò vài câu, rồi bắt xe khách cho con đi. Nhà lại neo người hơn, chỉ còn lão và thằng con út, năm nay mới vào lớp sáu.
Thằng nhỏ… ai cũng biết. Nghe đâu là con của vợ lão với một ông bác sĩ làm cùng bệnh viện. Nó giống hệt mấy đứa con trai của ông ấy, da ngăm, tóc xoăn, mặt gầy choắt, không lẫn đi đâu được. Mà cũng nào có xa xôi gì. Nhà ông bác sĩ chỉ cách nhà lão có mười nóc nhà, nằm dọc con phố nhỏ ấy thôi. Lão đi đưa nước, giao hàng hay chạy xe ôm, ngày nào mà chẳng chạm mặt dăm ba lần. Vậy mà hàng xóm chẳng ai từng thấy lão to tiếng hay đôi co với ông ta. Hồi vợ còn sống, cũng chưa ai từng thấy lão cãi vã. Với thằng nhỏ, lão lại càng chưa từng nặng lời. Lão không đánh, không mắng, chỉ lặng lẽ thương nó, chăm chút cho nó như con ruột. Có khi, thương hơn cả bố ruột thương con. Thương thằng bé thiệt thòi, mồ côi mẹ, nên lo cho nó chu toàn từng miếng ăn, giấc ngủ.
Thế rồi ông bác sĩ lâm bệnh nặng. Nghe đâu phải sang tận bên Trung Quốc để thay một quả thận, nhưng tiên lượng cũng không sống được bao lâu. Ông gầy sọp hẳn đi, dáng người cao lớn ngày nào giờ lụi dần như một thân cây khô cỗi. Có mấy lần, ông lững thững định sang thăm thằng bé, đứa trẻ mang giọt máu của mình, muốn một lần nhìn thẳng vào mắt nó, muốn gọi nó là “con”. Cũng gần đất xa trời rồi, tình phụ tử tưởng chừng đã ngủ yên, giờ lại cựa mình trỗi dậy, thôi thúc ông hoàn thành điều thiêng liêng còn dang dở. Nhưng mấy người con bên ông thì hình như không muốn. Họ sợ lôi thôi, sợ rắc rối, sợ cả chuyện chia mảnh đất hương hỏa. Thôi thì cũng gần hết một kiếp người, ngậm thêm một điều đắng cay tiếc nuối cũng chẳng nhiều nhặn gì…
Ngày ông bác sĩ mất, kèn đám vang lên nỉ non khắp phố. Tối hôm trước ngày đưa tang, lão lặng lẽ bảo thằng út: “Con mặc bộ quần áo đẹp. Bố đưa con đi thắp hương cho bố của con”.
Thằng bé ngơ ngác. Nó cũng lờ mờ hiểu chuyện, từ những lời đồn thổi qua tai. Nhưng nó không hỏi gì, chỉ gật đầu, mặc áo rồi theo bố đi đám. Hai bố con lão vừa tới nơi, đám tang bỗng chững lại trong một khoảnh khắc. Mấy hàng xóm kín đáo liếc nhìn nhau, ánh mắt đầy hàm ý: “À, lão dắt con đến kia rồi”. Phía gia đình nhà ông bác sĩ có phần bối rối. Nhưng rồi cũng có người đưa cho hai bố con lão nén hương. Lão đứng trước bàn thờ linh vị, nhìn con, rồi ngước lên, chắp tay khấn:
– Nghĩa tử là nghĩa tận. Hôm nay tôi đưa cháu tới đây, để thắp một nén hương tiễn biệt anh. Khi anh còn sống, chưa thể nhận cháu. Nhưng có nhận hay không, cháu vẫn là con anh. Làm con, thì bố mất, phải đến lạy tiễn đưa. Cầu mong cho linh hồn anh nơi miền cực lạc được an bài siêu thoát.
Khấn xong, lão bảo thằng bé quỳ xuống, lạy ba lạy. Nó ngoan ngoãn làm theo, rồi châm hương, cắm vào bát. Khói hương uốn cong thành dải mỏng, chậm rãi bay lên. Theo làn khói ấy, mọi khúc mắc, oán ân, điều tiếng… cũng như tan ra và bay đi mất. Người ta đứng bên, lặng nhìn. Rồi cúi đầu. Có ai đó nói nhỏ: “Thế mới là tận nghĩa tận tình. Lão này… đáng trọng”.
Bẵng đi năm năm, thằng con trai lớn của lão cũng đã tốt nghiệp ra trường. Bệnh viện huyện trong giai đoạn tự chủ, đang ưu tiên tuyển dụng bác sĩ trẻ có tay nghề, trình độ, lại là người địa phương. Thằng con lão được xếp đầu danh sách. Có việc làm, có lương, nó tự nuôi được bản thân, còn phụ bố lo cho em ăn học. Âu cũng là trái ngọt cho những tháng năm lão gồng gánh, tần tảo nuôi con người khác bằng chính tình yêu chân thành nhất. Nét mặt lão dạo này giãn ra đôi phần. Lão vẫn hay sang nhà tôi xin chén rượu, nhưng cái cách uống đã khác: không còn uất nghẹn, cay đắng, mà thong thả, từ tốn, như người từng đi qua khổ đau nay biết trân quý từng giọt yên bình.
Một buổi chiều hè, lão sang chơi cờ với bố tôi. Khoảng sân rợp bóng cây hoa dẻ, hoa nở vàng thơm dịu mát. Hai ông già ngồi bên bàn đá, đánh cờ, rồi khề khà chén chè mạn đặc. Cũng lâu lắm rồi, lão mới có lại một buổi chiều thong dong như thế. Hai đứa con ở nhà: thằng lớn mới đi làm về, đang cùng thằng em loay hoay nấu cơm. Nhà cửa giờ chúng nó lo cả, thương bố nên đứa lớn đứa nhỏ đều biết vun vén, đỡ đần. Mẹ tôi dọn cơm ra, lão toan cáo từ, nhưng bố tôi giữ lại: “Anh em làm đôi chén cho vui”. Hôm đó mẹ tôi đi chợ mua được rổ cá diếc đồng bụng đầy trứng, làm món cá kho khế chua, món quê, mà hợp rượu lắm.
Hai ông ngồi nhâm nhi, rồi rượu dẫn chuyện. Lão kể, năm ấy đi bộ đội, đóng ở mặt trận Vị Xuyên, lúc chiến sự khốc liệt nhất. Các ngọn đồi, điểm cao đổi chủ liên tục. Đại đội của lão được lệnh đánh thốc lên giành lại đồi bị địch chiếm. Pháo nổ dồn dập như giã gạo. Đồng đội của lão nằm lại bên sườn đồi quá nửa. Lão dính mảnh pháo ở bụng dưới, máu chảy đẫm cả người, được đồng đội cõng về tuyến sau. Nằm viện quân y mấy tháng, lão ra quân với tờ giấy chứng nhận thương binh.
Vợ chồng lão cưới nhau nhiều năm mà vẫn chưa có con. Lão nhận ra ánh mắt khao khát của vợ khi nhìn thấy đám trẻ con hàng xóm mỗi khi rượt đuổi lau nhau trước cổng. Và cả những nỗi buồn thầm lặng mà vợ lão chưa bao giờ thổ lộ. Lão hiểu hết. Chỉ có điều lão không nói ra. Vợ lão làm bệnh viện, đi sớm về khuya, có hôm trực mấy ngày không về. Lão biết rõ hai đứa nhỏ không phải máu mủ của mình. Nhưng ngày vợ sinh, khi nhìn đứa trẻ đỏ hỏn oe oe cất tiếng khóc đầu đời, lão lại thấy lòng mình mềm đi. Rằng nếu không có con, thì vợ kiếm về, lão nhận. Nuôi nấng, chăm chút như con ruột. Vợ mất rồi, mặc bao lời dị nghị, lão vẫn âm thầm nuôi dạy hai đứa lớn khôn. Bố tôi rót thêm một chén rượu, đưa cho lão, giơ chén cụng nhẹ, rồi nói chậm rãi: “Cuộc đời này, công bằng lắm ông à!”.
Trong chiều nhập nhoạng, bên mâm cơm quê thơm mùi cá kho, bên chén rượu nhấp nhổm khói, hai ông già hàng xóm cười xề xòa. Như thể cái cười đó là để khép lại một quãng đời truân chuyên, gấp gãy, mà rồi cũng đủ đầy. Biết đâu, cuộc đời đã thật sự công bằng với lão rồi chăng?
LÊ NGỌC SƠN

