Dấu xưa Am Bà Pleiku

(VNGL – Đất và người Gia Lai). Những người quan tâm đến dấu tích kiến trúc ở đô thị Pleiku hẳn sẽ bồi hồi khi ngày nay những cái tên gắn với lịch sử văn hóa tín ngưỡng dân gian nơi đây như “Am Bà”, “Đền Cậu”, “Nhà làng” Hội Phú, Hội Thương… theo sự phát triển giờ chỉ còn là truyền thuyết, ký ức mông lung. Phần nhiều trong số đó thậm chí ngay cả thông tin và hình ảnh cũng không còn lưu dấu. Am Bà là trường hợp may mắn.

Bởi Am Bà còn thông tin, còn hình ảnh lưu truyền minh chứng cho sự tồn tại của mình. Thậm chí, chúng tôi còn tìm thấy gần như đầy đủ các di vật gắn với tín ngưỡng đạo Mẫu thờ Tứ phủ ở Am Bà Pleiku xưa kia hiện nằm rải rác tại các nơi.

Vào một buổi chiều, trong khi lang thang quan sát sự tồn tại của văn tự cổ trong đời sống xã hội đương đại, chúng tôi bước vào tiệm tranh thờ Minh Nghĩa trên đường Nguyễn Văn Trỗi (phường Hội Phú). Trong suy nghĩ của chúng tôi, tiệm tranh thờ chính là một môi trường sống mới của văn tự Hán Nôm, bởi ngày nay, con người vẫn hướng đến văn hóa truyền thống và họ vẫn dùng các hoành phi, câu đối bằng chữ Hán, chữ Nôm trang trí bàn thờ gia tiên để thêm phần trang nghiêm, xem đó như là một cách bảo tồn, tiếp nối, phát huy giá trị di sản văn hóa từ các thế hệ trước đến các thế hệ sau. Các tiệm tranh thờ là nơi đáp ứng nhu cầu văn hóa ấy, trong đó có tiệm tranh Minh Nghĩa.

Sau khi hỏi thăm và trình bày mục đích tìm hiểu văn hóa truyền thống, chúng tôi được chủ tiệm là ông Nguyễn Ngọc Muôn dẫn lên lầu, bước vào một phòng thờ. Tại đây, trước mắt chúng tôi hiện ra hình ảnh của một điện thờ với đầy đủ tượng thánh ông thánh bà được chế tác bằng gỗ, thạch cao, đất nung sơn vẽ bên ngoài rất đẹp, bài trí trên hai bàn thờ, mỗi vị có một diện mạo và áo mão khác nhau. Bàn thờ phía trước dành riêng cho các thánh ông, gồm 3 bức tượng lớn và 3 bức tượng nhỏ, tên các thánh được viết rõ phía trước bàn thờ từ trái sang phải là: Cậu Bé, Ông Cậu Mười, Ông Hoàng Bảy, Quan Lớn Bơ, Ngài Trần Triều (tức Đức Thánh Trần Hưng Đạo). Bàn thờ phía sau dành riêng cho các thánh bà, gồm 7 pho tượng kích thước bằng nhau, tên các vị từ trái sang phải được viết là: Cô Bơ, Chầu Bé, Chầu Đệ Nhị, Mẫu Đệ Nhất, Chúa Bà, Cô Chín, Cô Bé. Ngoài ra còn một số đồ vật gắn với tín ngưỡng xưa như gương để thanh đồng soi trang điểm chuẩn bị hầu thánh, bàn gỗ để bày lễ, chuông đồng, bức hoành phi có 4 chữ Nho lớn “聖德無邊” (Thánh Đức Vô Biên), tranh thờ Ngũ hổ, đao gỗ…

Ông Nguyễn Ngọc Muôn trong phòng thờ thánh tại tư gia. Ảnh: L.H.S

Theo lời ông Muôn, nguồn gốc các đồ thờ tự này ban đầu do một người được ông gọi là “bác Phú” giao cho mẹ ông gìn giữ và thờ tự gồm một bát nhang bằng đồng, một pho tượng Mẫu và hai pho tượng Quan Lớn, còn các bức tượng khác do một tín đồ khác là “bà Tiếp” ở cổng chợ Lớn Pleiku đưa về bày biện thêm cho phong phú sau khi mẹ ông qua đời. Mẹ ông Muôn là bà Quách Thị Kích (1920 – 2006) vốn là một tín đồ thường lui tới Am Bà, thời còn sống, sau khi Am Bà giải thể, thi thoảng bà vẫn tổ chức lễ hầu thánh tại tư gia, mời các tín đồ đạo Mẫu đến nhà tham gia. Từ khi bà qua đời, vợ chồng ông Muôn vẫn thờ tự và sửa lễ xôi chè trái cây vào 4 ngày lễ tiệc lớn trong năm theo âm lịch là: lễ Mẫu Mẹ 3.3, lễ Quan Bơ (Quan lớn Tuần) 24.6, lễ Vua Cha 22.8, lễ Ông Hoàng Mười 10.10. Nhưng vì hiện thời các “thanh đồng đạo quan” số đã qua đời số đã quá già yếu nên không còn ai lên đồng hầu thánh, chỉ làm lễ tưởng nhớ các thánh để lưu giữ kỷ niệm của mẹ và các tiền bối mà thôi. Mỗi buổi lễ như thế thường có vài ba người con cháu các tín đồ đạo Mẫu xưa tham gia.

Chúng tôi theo chỉ dẫn của ông Muôn, tìm đến nhà “bác Phú” tại đường Đồng Tiến phường Diên Hồng. Thực ra, vào năm trước chúng tôi khi tìm dấu tích của Am Bà cũng đã đi một chuyến, theo lời chỉ dẫn của “nhà Pleiku xưa” là ông Nguyễn Quang Hiền (phường Diên Hồng), nhưng chưa có duyên gặp. May mắn là lần này ông Phú có nhà và vui vẻ tiếp chúng tôi. Ông cho biết mình tên thật là Phạm Văn Vũ, còn Phú là tên thường gọi, sinh năm 1931, quê ở Hải Phòng, lên Pleiku từ năm 1957, trước kia nhà ở đầu đường Tăng Bạt Hổ gần “Đền Cậu”, sau mới dời ra vị trí hiện tại. Dù đã hơn 90 tuổi, nhưng ông vẫn còn rất nhanh nhẹn, khỏe mạnh và minh mẫn. Ông tiết lộ, từ năm 12 tuổi thời ở quê ông đã được “các Ngài bắt đồng”, khi lên Pleiku đã thấy tín ngưỡng “4 phủ” (tức Tứ phủ) thịnh hành ở Am Bà, sau đó thì ông trở thành một trong số các thanh đồng chính của am. Ông từng tham gia rất nhiều buổi hầu thánh tại “chiếu Bà” Pleiku, cũng từng được mời xuống Quy Nhơn nhiều lần để “mở phủ” hầu thánh. Những thanh đồng và tín đồ cùng thời với ông nay đã qua đời gần hết, chỉ sót lại 1, 2 người.

Về hoạt động nghi lễ tại Am Bà, ông Phú cho biết am xưa kia nổi tiếng linh thiêng, nhiều người cầu cúng linh ứng. Chúng tôi tìm được một số tấm ảnh cũ chụp Am Bà ở góc gần, thấy trên trán am đắp hai chữ Nho lớn “靈祠” (Linh Từ) nghĩa là ngôi đền linh thiêng. Như vậy có thể nói rằng, “Am Bà” là cách gọi của dân gian, còn tên chính thức của nơi đây là “Linh Từ”.

Ông Phú nhớ lại, tại Am Bà xưa lễ hầu thánh xưa diễn ra tại thường xuyên, ngoài hai ngày lễ quan trọng nhất là “tháng tám giỗ Cha (22.8), tháng ba giỗ Mẹ (3.3)” thì các ngày khác ai có nhu cầu, thánh cho phép nhập thì sẽ tiến hành lễ. Mục đích của việc lên đồng hầu thánh là cầu bình an, sức khỏe, tài lộc dồi dào. Ông Phú còn cho hay mình từng sắm một rương lớn áo khăn hầu thánh được may bằng “gấm Hồng Kông” rất đắt đỏ và đẹp, nhưng trong thời chiến tranh bị thất lạc, giờ chỉ còn hai bộ. Ông vào buồng lấy ra cho chúng tôi xem bộ khăn áo Quan Đệ Nhất màu đỏ tươi, hoa văn sắc sảo ông từng dùng khi hầu thánh trước kia. Nhìn bộ khăn áo ấy, mắt ông ánh lên vẻ tự hào về một thời huy hoàng. Ông cho biết vẫn mặc áo và đội khăn này vào dịp lễ Tết.

Am Bà xưa. Ảnh: L.H.S

Về người chủ quản lý Am Bà, theo ông Phú, đó là bà chủ rạp xi-nê Thăng Long, vì thế được gọi là “bà Thăng Long”. Bà Thăng Long giao cho ông điều hành đội “nam quan, nữ quan” lễ tế hầu thánh. Khi Am Bà bị giải thể, bà Thăng Long dời vào TP. Hồ Chí Minh, chính ông là người duy nhất gặp mặt đại diện phía chính quyền nhận bàn giao các đồ vật của Am Bà và chia đặt cho các nơi thờ tự. Theo đó, ông giao một phần cho bà Kích (mẹ ông Muôn đã kể ở trên), một phần cho chùa Bửu Minh (xã Biển Hồ) và phần lớn cho chùa Bảo Sơn (phường Diên Hồng).

Vị trí của Am Bà được vợ chồng ông Muôn cho biết là tại góc ngã tư đường Phó Đức Chính giao đường Trịnh Minh Thế, hiện là góc giao nhau ở đường Nguyễn Văn Trỗi và Trần Hưng Đạo, cách nhà ông Muôn chỉ khoảng 100m. Khi chúng tôi đến hỏi những người dân sống tại đó, thì được ông N.V. Thuận (sinh năm 1967 tại Pleiku) xác nhận và cho biết thêm, cổng Am Bà xưa quay về hướng Tây, sau am có cây sung lớn, dưới gốc sung có một ông rùa lớn chừng trăm ký sống, ăn sung rụng và chuối cúng. Khi Am Bà giải thể, đồ thờ tự được đưa về chùa Bảo Sơn gần chợ Bà Định.

Theo lời chỉ dẫn của ông Phú và ông Thuận, chúng tôi đến chùa Bảo Sơn. Tiếc là sư bà trụ trì hiện đang ốm, các sư cô bận bịu trong ngày mùng Một, nhưng chúng tôi cũng kịp xác nhận thông tin ông Thuận mách là đúng và tìm được nơi thờ tự các Mẫu ở Am Bà xưa trong chùa. Đó là khu “Nhà Thánh” nằm sát lầu chuông bên phải chánh điện. Nhà Thánh khá rộng rãi, gồm hai bàn thờ, bàn phía trước đặt tượng Phật A Di Đà, bàn phía sau bài trí tất cả 17 bức tượng lớn nhỏ áo mão nghiêm trang, chia làm bàn 3 bậc, phía dưới bàn thờ tạo hình vòm hang đặt tượng Chúa Sơn Lâm (hổ). Tên các thánh được ghi rõ trên tờ giấy dán phía trước bàn thờ, gọi chung là “Hội Đồng Tiên Thánh” gồm: Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Đông Cuông, Chúa Bà Sơn Lâm, Quan Thanh, Quan Giám, Ngũ Vị Quan Lớn, Bà Chúa Bạch, Đệ Nhất Thánh Cậu, Cô Đôi, Cô Bơ, Cô Bé, Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười, Ông Bác, Hắc Hổ Đại Thần Tướng, Vua Cha, Mẫu Mẹ.

Bàn thờ hội đồng tiên thánh chùa Bửu Sơn. Ảnh: L.H.S

Bà N.T.T. Nga (sinh năm 1962) là Phật tử đang sửa lễ tại chùa cũng xác nhận các tượng trong Nhà Thánh đúng là từng ở Am Bà được đưa về đây. Bà thường lui tới tham gia phục vụ tại chùa từ năm bảy năm nay và thấy rằng vào ngày Tết, tại khu Nhà Thánh của chùa Bảo Sơn này có rất nhiều người dân đến xin xăm hỏi vận cầu may.

Về lịch sử tồn tại của Am Bà, chúng tôi chưa xác định được thời điểm hình thành và xây dựng. Ông Phú cho biết khi ông lên Pleiku vào năm 1957 thì đã thấy am “của bản tỉnh Pleiku” được xây dựng quy mô, khuôn viên rộng, tín đồ đông. Theo ông Nguyễn Quang Hiền, ban đầu nơi đó chỉ là một trang thờ nhỏ đặt dưới gốc cây cổ thụ, sau đó bà Thăng Long cùng một số người đứng ra xây dựng tôn tạo ngày càng quy mô.

Nhìn từ góc độ văn hóa, lịch sử chúng ta biết rằng tín ngưỡng thờ Mẫu gắn liền với cư dân miền Bắc, sau năm 1954, nhiều người miền Bắc đã di cư vào Nam, lên Tây Nguyên. Vì vậy tín ngưỡng Tứ phủ thờ Mẫu xuất hiện tại Pleiku cũng như Am Bà có mặt tại đây muộn nhất là vào thời điểm này. Giai đoạn 1954 – 1975, Am Bà hoạt động sôi nổi, sau năm 1975 theo phong trào bài trừ mê tín dị đoan, Am Bà được chính quyền cách mạng tiếp quản, cũng theo ông Nguyễn Quang Hiền, thời bao cấp nơi đây được dùng làm hợp tác xã mua bán phường Hội Thương. Đến khoảng năm 1994 thì am chính thức bị giải tỏa làm đường phục vụ phát triển đô thị Pleiku hiện đại.

Lên đồng được xem là một nghi thức thông linh (kết nối con người với thần linh) trong đạo Mẫu gắn với nghệ thuật trình diễn, tập quán xã hội đặc sắc của văn hóa nông nghiệp truyền thống Việt Nam. Ngày nay, những yếu tố tích cực của tín ngưỡng này đã được ghi nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Tuy Am Bà Pleiku không còn tồn tại, nhưng những di vật thiêng liêng còn lại của tín ngưỡng thờ Mẫu, Tứ phủ từng thịnh hành trong dân gian phố núi này vẫn còn được dân gian phố núi ghi nhớ, giữ gìn một cách trân trọng và có không gian sống mới, sứ mệnh mới.

TS. LƯU HỒNG SƠN

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Địa danh Cầu Đôi trong thư tịch và tâm thức dân gian

Giữa không gian đô thị hiện đại của Quy Nhơn, Cầu Đôi vẫn hiện diện như một biểu tượng quen thuộc gắn với ký ức văn hóa địa phương. Không chỉ là một địa điểm giao thông nằm cạnh Tháp Đôi, địa danh này còn lưu giữ…

Hoa anh đào Vĩnh Sơn

Mùa hoa anh đào ở Vĩnh Sơn thường vào tháng Hai, tháng Ba hằng năm. Vào mùa này, khắp bản làng đều rực rỡ sắc hoa…