Đầu xuân đọc “Lời hạ du sông hát”

(VNGL – Đọc sách). Châu Thường Vinh là bút danh của nhà giáo – cán bộ hưu trí Nguyễn Phúc Hưng. Ông sinh năm 1950, ở xã Nhơn Khánh (nay thuộc phường Bình Định, tỉnh Gia Lai). Tác giả có thơ in trên một số báo, tạp chí của trung ương, địa phương và cũng là một trong những gương mặt thơ xuất hiện trong tuyển tập 10 năm thơ Bình Định 2011-2021. Tiếp nối mạch nguồn từ tập thơ đầu tay Khúc ca cuối chiều (NXB Văn học ấn hành năm 2013), Lời hạ du sông hát là tập thơ thứ hai của tác giả, được NXB Văn hóa – Văn nghệ ấn hành năm 2019, gồm 40 bài thuộc nhiều thể loại khác nhau. Đó phần lớn là những tác phẩm được tác giả viết trong thời gian đã hưu trí, ít nhiều gây ấn tượng với người đọc từ nhan đề của thi tập đến một số thi phẩm cụ thể.

Đầu xuân – thời điểm “Tống cựu nghênh tân” dễ khơi gợi trong lòng người những hoài niệm, chiêm nghiệm về quá khứ, rung động trước thực tại và đón đợi, suy tưởng về tương lai. Đọc Lời hạ du sông hát của Châu Thường Vinh, độc giả sẽ được đồng trải nghiệm tất cả các thiên hướng cảm hứng ấy. Điều đáng nói là, dù cái tôi trữ tình tác giả có tâm thế hướng về đâu thì tiếng thơ Châu Thường Vinh cũng mang lại cho người đọc những cảm xúc nhân văn, ý nghĩa giáo dục trước hiện thực cuộc sống, cùng những trăn trở, cảm nghiệm về thời cuộc, thế hệ, phận người, kiếp nhân sinh đáng để ngẫm suy.

Lời hạ du sông hát trước hết là tiếng hát của một cái tôi trữ tình công dân tích cực. Soi vào mối quan hệ nào trong vô vàn những mối quan hệ riêng – chung, ta cũng thấy nhà thơ hướng về phía ánh sáng, những điều ý nghĩa, những việc nên làm. Với bản thân, tác giả là người sống có ước mơ, lý tưởng, luôn miệt mài lao động, tận hiến dù ở tuổi nào. Hành trình từ quê ra phố, đến chốn cố đô học tập rồi trở về quê hương lập nghiệp, dù phải nếm trải những tháng ngày loạn ly, lận đận, tha hương, bệnh tật của tuổi già,… ông vẫn kiên trì với con đường “kinh sử”, sự nghiệp “trồng người” để “cố kết trầm” cho đời thêm ngát hương: “Nương cửa người mười năm/ Trao thân chốn thị thành/ Tôi chọn đường kinh sử/ Ước mai ngày rạng danh/ Biển đời ngưng bão giông/ Thuyền quay lại bến sông/ Tôi miệt mài gieo tưới/ Đợi gặt mùa ước mong” (Tình làng), và “Lại nữa bao mùa Xuân/ Ai cũng một mệnh phần/ Biết thân rồi gỗ mục/ Cây nay cố kết trầm” (Xuân cảm). Với gia đình, đồng nghiệp, xóm làng, trái tim Châu Thường Vinh luôn nặng những ân tình. Là một trí thức từng trải, trọng tình, Tết đến xuân về, ông chú trọng vào việc kết nối, tri ân nguồn cội, gìn giữ “nếp nhà”: “Mùa xuân lòng thành/ phẩm vật lễ dâng/ Thắp nén hương thơm/ Cháu con bái cáo, nguyện thầm” (Mùa xuân trên gò làng), “Yêu thương sưởi ấm gia đình/ Cốt từ huyết thống người chung một nhà/ Nên sau dù có bao giờ/ Người ta vẫn nhớ thương về nhà xưa” (Mái nhà quê); yêu mến, tin tưởng đồng nghiệp, người kế cận: “Mùa thu An Nhơn 3…/ Người em thân yêu/ Ý sáng tình sâu/ Tin em từ độ gieo Cầu” (Mùa thu hội trường); và chan hòa với xóm làng: “Xưa tôi sống trong làng/ Hồn thơm hương ruộng vườn/ Nay tôi sống cùng làng/ Báo ân tình quê hương” (Tình làng). Với quê hương, đất nước, nhà thơ luôn hát lời tự hào. Đó có thể là những địa danh quen thuộc trên quê nhà mang theo bao trầm tích văn hóa: “Mùa thu đến sớm/ Bến nước My Lăng…/ Về qua Cổng Thành/ Áo mùa thu trắng…/ Mùa thu Kinh xưa/ Trên cao lộng gió” (Mùa thu quê hương). Bên cạnh niềm tự hào, ngợi ca về vẻ đẹp giàu, tác giả còn vững niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước cùng với ý thức bảo vệ chủ quyền thường trực, mạnh mẽ: “Anh thích nghe nói về Tổ quốc, các miền/ Bằng những mĩ từ, biểu tượng/ Chiếc bao lơn trông ra đại dương/  Hòn ngọc Viễn Đông, Thành phố Vì Hòa Bình/ Một con tàu rẽ sóng hướng bình minh…/ Ta vững tin Cờ đỏ Sao vàng/ Kiên trì “tâm công”, nắm chắc chủ quyền/ Và nếu cần, ta không tiếc máu xương/ Cho Tổ quốc quang vinh, cho trời biển vẹn toàn” (Nhủ lòng ngày biển động). Như vậy, ở bất kỳ góc nhìn nào, Châu Thường Vinh cũng luôn ý thức gắn kết cái tôi cá nhân với cái ta cộng đồng, đặt con người cá nhân trong mối quan hệ hữu cơ với xã hội. Qua đó, giá trị của mỗi cuộc đời được nâng lên khi được tận hiến và hòa nhập trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Chính vì thế, Lời hạ du sông hát mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về tình yêu con người, về ý thức sống có trách nhiệm đối với cuộc sống, cộng đồng và đất nước.

Cái tôi trữ tình trong thơ của Châu Thường Vinh luôn lạc quan, yêu đời, dám nhìn thẳng vào hiện thực và chấp nhận cả những điều bất như ý, xem đó như lẽ tự nhiên để giữ được sự bình thản và tiếp tục sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc. Như ý nghĩa toát lên từ nhan đề Lời hạ du sông hát, thơ ông là tiếng nói của một đời người, đời sông đã ở khúc hạ lưu, đang dần tan vào biển cả nhưng vẫn cất lên khúc hát lạc quan. Nhà thơ không dửng dưng, cũng không né tránh khi đối diện với sự già nua, bệnh tật và cả những dự cảm về cái chết vốn là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, ông không dừng lại ở sự than thở mà chủ động vượt qua bằng cách thay đổi nhận thức. Trước tuổi già, nhà thơ lựa chọn lối sống “thanh thản”, “thôi phiền muộn”: “Khúc hạ lưu thanh thản thả dòng xuôi (Khúc hạ lưu), và “Lòng ơi! Thôi phiền muộn/ Sống trọn từng phút giây” (Trước ngưỡng tuổi bảy mươi). Trước bệnh tật, ông xem đó chỉ như là “dư chấn của cơn mê” (Nằm viện những ngày cuối năm). Trước dự cảm về cái chết, ông bình tâm khuyên nhủ người ở lại: “Người thương ơi, xin hãy bình tâm/ Dầu thế nào anh cũng ở bên em” (Bài ca từ biệt). Trước những điều đáng buồn nói chung, nhà thơ không viện cầu, an ủi bằng những triết thuyết tôn giáo mà bằng cái nhìn thực tế để có thể phát huy hết nội lực còn lại của chính mình: “Tôi ngoại đạo lại thuộc về số đông/ Đành như hoa phù dung/ Ngõ chiều ngan ngát hương” (Như hoa phù dung). Châu Thường Vinh đã cố gắng giữ cho tâm hồn mình vẫn xuân khi tuổi đã già: “Thì ra mùa xuân không nệ tuổi/ Đến với ai còn trẻ tâm hồn” (Xuân tứ); vẫn tìm đến những niềm vui: “Nay chân yếu, mắt lòa mờ, tóc bạc/ Mà mưu cầu niềm vui, đâu chịu loại vừa” (Tự kiểm); và vẫn luôn tin yêu, hy vọng vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống: “Và tôi hát gọi con, nào đừng tuyệt vọng/ Như một mong cầu, hơn nữa một niềm tin/ “Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”” (Chiều hôm thị hiện). Trước những chông chênh của cuộc sống, con người rất cần một tâm thế sống lạc quan, an nhiên và tự tại, như cách Châu Thường Vinh đã trải nghiệm, chiêm nghiệm và giãi bày qua những trang thơ của mình!

Cái tôi trữ tình trong thơ của ông thật nhẹ nhàng, ấm áp. Nhà thơ luôn biết chắt chiu và nâng niu những hạnh phúc đời thường trong sự trở về với không gian quê nhà thân thuộc: “Làng tôi ở ven sông/ Bốn mùa cây lá xanh/ Tuổi thơ trôi lặng lẽ/ Trong gió đưa hương đồng (Tình làng), hay “Biếc xanh nương mía một bờ/ Bờ bên soi bắp triệu cờ hoa lay” (Lời hạ du sông hát),… Là cảnh hoàng hôn nơi ngã ba sông Côn vào một chiều xuân đẹp như một bức tranh thủy mặc: “Ngày thư thả chiều xuân lên Phụ Ngọc/ Quán bên cầu cửa hướng ngã ba sông/ Tôi đã gặp một vùng thủy mặc/ Trên dòng Côn khi ngồi đợi chiều tan” (Chiều xuống trên cầu Phụ Ngọc); hay cảnh sắc hoa lá, mây trời hòa điệu bên hồ vào một buổi sớm: “Xe chầm chậm đi hồ bơi buổi sớm/ Phượng nở hồng kề tim tím bằng lăng/ Những đám mây trắng tự ngàn năm/ Bay lờ lững trên vòm trời xanh cốm” (Ngẫu cảm bên hồ). Đó dường như là một không gian vô trùng, miễn nhiễm với những gì xô bồ của xã hội để tác giả được tĩnh tâm, di dưỡng tinh thần. Và cũng như bao người, nhất là ở tuổi già, hạnh phúc với Châu Thường Vinh là được sống lại với những kỷ niệm đẹp trong đời: Bên cạnh những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ nơi quê nhà là dấu ấn khó phai của tuổi học trò, tuổi hoa niên gắn với nghiệp sách đèn, với tình bạn và cả tình yêu đầu đời (Hành trình, Còn mãi màu hoa ấy, Xin lỗi tình thân,).

Lời hạ du sông hát của Châu Thường Vinh thể hiện chiều sâu của cái tôi trầm lắng, luôn gắn bó mật thiết với những trăn trở, suy tư về thế giới, nhân sinh và chính bản thân mình. Người ta vẫn nói: “Trẻ mơ xa, già ngẫm lại”, người lớn tuổi thường có xu hướng chiêm nghiệm những gì đã đi qua. Châu Thường Vinh là người sống có trách nhiệm, một trí thức từng trải thuộc thế hệ 5X, đồng thời là một thầy giáo dạy Văn giàu xúc cảm. Chính những tầng sâu ấy đã tạo nên căn nguyên khiến trái tim và khối óc ông không thể thờ ơ trước những biến động của xã hội, của đời sống cá nhân và cả những giá trị muôn thuở. Với chính mình, nhà thơ luôn thường trực tự vấn, tự kiểm và tự nhắc nhở, điều vốn cần thiết đối với bất kỳ ai trên hành trình làm người: “Có đôi lần tôi tự hỏi đời trai/ Tuổi trẻ trôi qua thế nào rồi nhỉ…/ Có đôi lần tôi tự hỏi tình yêu/ Đầu tiên, cuối cùng hay tình duy nhất…/ Có đôi lần tôi tự hỏi đời riêng/ Bao được mất, lỗ lời và gieo vãi…” (Khúc hạ lưu), và, “Tuổi sáu mươi người xưa sống hài hòa/ Qua ngưỡng này rồi mình liệu biết gì chưa” (Tự kiểm), và đây nữa, “Đời đã ngoài sáu mươi/ Cầu chi hương sắc lạ/ Nguyện làm mai hương cội/ Xuân rực vàng khôn nguôi” (Một chặng đường xuân),… Trên “cỗ xe thời gian” của tạo hóa, Châu Thường Vinh đã triết luận về một nghịch lý phũ phàng: cùng là sản phẩm kiến tạo của “Mẹ thiên nhiên”, nhưng trời, biển thì luân hồi, trường tồn, còn đời người lại hết sức mong manh, ngắn ngủi: “Mặt trời ngày đêm luân hồi…/ Năm tháng đời người mãi mãi trôi…” (Trên cỗ xe thời gian), hay, “Cùng Mẹ thiên nhiên mà/ Sao khác xa mệnh số/ Biển nghìn đời sóng vỗ/ Người biệt hồi âm ba?” (Sóng âm). Đó là một sự minh triết rất thực tế, khách quan, không an ủi bằng một triết thuyết tôn giáo, tín ngưỡng nào vào sự tái sinh của con người ở một cõi khác, kiếp khác, mà cần thuận theo lẽ tự nhiên: “Cuối tìm… theo tự nhiên thôi/ Cuối rồi ai cũng buông đời mình theo…” (Tập nhìn vào chỗ cuối). Và đối lập giữa cái vô hạn của vũ trụ với cái hữu hạn của kiếp người cũng là cách để ta càng biết trân quý cuộc sống này! Tôi còn thích cách tác giả ví “Đời người như thể đời sông” (Lời hạ du sông hát) và nghĩ nhiều về dòng sông đời người. Dòng sông ấy là cả một hành trình thừa tiếp từ ngọn nguồn cho đến lúc tan biến vào biển cả, dù ở đoản khúc nào cũng cần phải tận hiến những gì tốt đẹp nhất: “Thơ thẩn sông quê chiều hôm/ Hiển thị một hành trình…/ Hành trình tôi đến khúc vĩ thanh/ Sông quê chiều thao thiết một dòng xanh” (Hành trình). Và ông còn cảm thấy “thắt lòng” khi không gian đồng quê gắn với những kỷ niệm êm đềm đang ngày một biến mất: “Tuổi lớn rồi về lại thăm quê/ Đồng làng giờ hầu như đã phố/ Đêm nghe mưa rì rào trên mái/ Thắt lòng thương nhớ thuở mò cua” (Dấu yêu ngày nhỏ)…

Trong tập Lời hạ du sông hát, để biểu đạt cái tôi trữ tình phong phú và đa thanh, Châu Thường Vinh đã vận dụng linh hoạt nhiều thể loại thơ khác nhau như: Thơ bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát và thơ tự do. Nhà thơ cũng chủ động làm mới những thể thơ quen thuộc bằng việc sử dụng các câu thơ vắt dòng (như Tứ tuyệt bông trang, Chiều hôm thị hiện, Trước ngưỡng tuổi bảy mươi…), xen cài những câu thơ có số chữ nhiều hoặc ít hơn so với cấu trúc thông thường của bài thơ (như Mặt đêm trên con đường thành phố, Mùa thu hội trường, Mùa xuân trên gò làng…), hoặc tổ chức những khổ thơ có số câu không đồng đều (như Mùa thu quê hương, Chuyện một vì sao đất Việt, Mặt đêm trên con đường thành phố…). Đáng chú ý, trong thi pháp thơ Châu Thường Vinh, hệ thống hình tượng ẩn dụ được sử dụng với mật độ cao, giàu sức gợi liên tưởng và mang giá trị biểu trưng sâu sắc, góp phần tạo nên chiều sâu tư tưởng và cảm xúc cho thế giới nghệ thuật của nhà thơ: “biển đời”, “mùa ước mong” (Tình làng); “hoa người”, “hoa công việc” (Mùa thu hội trường); “cuống rạ bơ vơ”, “cánh chuồn côi” (Hành trình); “sông hát” (Lời hạ du sông hát); “cỗ xe thời gian” (Trên cỗ xe thời gian); “Hồn thơm hương ruộng vườn” (Tình làng);… Bên cạnh đó, các biện pháp tu từ như câu hỏi tu từ, phép điệp, nhân hóa, từ láy… cũng được nhà thơ vận dụng một cách nhuần nhị, đúng chỗ, góp phần nhấn mạnh nội dung biểu đạt vừa cụ thể, sinh động, vừa trừu tượng và sâu sắc. Nhờ vậy, tập thơ đã tạo nên nhiều câu chữ giàu sức ám ảnh, chạm đến những rung động tinh tế trong trái tim người đọc.

Thơ Châu Thường Vinh không quá chú trọng vào việc thiết kế cấu tứ hay cách tân hình thức, cũng không câu nệ ở việc trau chuốt từ ngữ; ông lựa chọn cách thủ thỉ, giãi bày bằng ngôn từ mộc mạc, thông qua những thể thơ quen thuộc. Vẫn nổi bật với cái tôi trữ tình mang ý thức công dân tích cực, song so với Khúc ca cuối chiều, tập Lời hạ du sông hát đã giàu chất hoài niệm, suy tư và chiêm nghiệm. Phải chăng đó cũng là quy luật của nhận thức trong hành trình một kiếp nhân sinh? Bởi thế, tiếng hát ở khúc hạ du của Châu Thường Vinh, dù chỉ ngân lên trầm lắng như một tiếng chuông chiều, vẫn có sức vang vọng bền sâu trong miền suy tưởng của người đọc.

NGUYỄN ĐÌNH THU

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Thời gian tạo hình, tạo hình thời gian

“Mắt nghĩ” có 55 bài viết. Tập sách không áp đặt mà gọi mời. Mỗi bài viết đều mang tính chất gợi mở, kích thích tình yêu nghệ thuật và đồng sáng tạo cùng tác giả…

Chén thu chuốc mềm lòng thi sĩ

Nói đến Nguyễn Hữu Quý bạn đọc thường nhớ trang viết về Trường Sơn, về thương binh, liệt sĩ… Bài thơ “Mùa thu mong manh” là một chất thơ khác, một góc hồn riêng đắm đuối…