(VNGL – Nghiên cứu & Phê bình). Trong văn hóa Việt Nam, có thể nói ngựa là loài vật vừa gần gũi vừa thiêng liêng với con người. Nhìn lại thập nhị chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, chúng ta sẽ có phát hiện thú vị khi thấy rằng chỉ có 3/12 con giáp được người Kinh phong thần và trở thành những thần thú, linh vật phổ biến khắp cả nước: thứ nhất là ần tức hổ/ cọp, thứ hai là Thìn tức long/ rồng, thứ ba là Ngọ tức mã/ ngựa. Tuy nhiên, hổ và rồng được phong thần chủ yếu vì nỗi sợ hãi, chỉ “kính nhi viễn chi” (kính sợ mà không dám gần gũi), duy có ngựa là giống loài thân thiết gần gũi với con người.
Lịch sử ghi nhận, ngựa là một trong số những gia súc được thuần hóa sớm nhất và thực tế cho biết, trong tiến trình phát triển của nhân loại, ngựa là loài vật có vai trò quan trọng đặc biệt, bởi luôn đồng hành với con người cả trong sinh hoạt đời thường lẫn đời sống tinh thần là văn học nghệ thuật và văn hóa tâm linh.
Kho tàng huyền thoại truyền thuyết Việt Nam có rất nhiều câu chuyện hay và đẹp về ngựa. Như ngựa sắt trong truyện Thánh Gióng, ngựa chín hồng mao trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, ngựa trắng trong truyện kể về sự tích đền Bạch Mã và kinh đô Hoa Lư từ hàng nghìn năm trước,…
Không biết tín ngưỡng thờ phụng ngựa tại Tây Gia Lai bắt đầu từ bao giờ. Trong sử thi Tây Nguyên, ngựa thường gắn liền với các anh hùng, dũng sĩ xông pha chiến trận, nhưng gần như không thấy ngựa được xem như một vị thần được thờ phụng tôn kính giống trong văn hóa của người Kinh.
Tại vùng Tây Sơn Thượng đạo xưa, từ cuối thế kỷ 18 khi anh em Nguyễn Nhạc lên chiêu binh mãi mã tích trữ lương thảo chuẩn bị khởi nghĩa, thì việc đầu tiên mà họ quan tâm là làm sao thu phục được nhân tâm của cư dân bản địa, đoàn kết Kinh – Thượng tạo nguồn lực vững mạnh cho nhà Tây Sơn. Truyền thuyết chinh phục thần mã Bạch Long câu và bầy ngựa rừng là một minh chứng cho chiến lược xây dựng liên minh ấy của Nguyễn Nhạc. Dân gian địa phương truyền rằng, sự kiện ấy đã dẫn đến tục kiêng cữ nuôi ngựa trắng như một sự “kỵ húy” của cư dân vùng Tây Sơn trong một thời gian dài.
Nếu xét trên phương diện các tín ngưỡng dân gian thực tế còn lưu truyền đến nay, thông qua các bài văn cúng, sắc phong thần dân gian còn lưu giữ được, thì tục thờ thần Bạch Mã xuất hiện muộn nhất tại vùng An Khê cũng từ đầu thế kỷ 19. Theo thống kê của chúng tôi, trong số 26 đạo sắc phong thần tại Tây Gia Lai còn giữ được đến nay, thì có 6 đạo dành cho thần Bạch Mã, được lưu giữ trong 5/11 ngôi đình còn giữ được sắc thần. Cụ thể như sau:
| Stt | Thần hiệu |
Niên đại | Niên hiệu | Phong hiệu, phẩm trật | Địa phương |
| 01 | Bạch Mã | 1880 | Tự Đức | Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang, Thượng đẳng thần | Thôn An Khê, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay thuộc phường An Khê, tỉnh Gia Lai) |
| 02 | Bạch Mã | 1909 | Duy Tân | Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang – Dực Bảo – Trung Hưng, Thượng đẳng thần | Thôn An Khê, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc phường An Khê, tỉnh Gia Lai) |
| 03 | Bạch Mã | 1911 | Duy Tân | Đôn Ngưng – Dực Bảo – Trung Hưng, Chi thần | Thôn An Dân, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc phường An Bình, tỉnh Gia Lai) |
| 04 | Thái Giám Bạch Mã | 1911 | Duy Tân | Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang – Dực Bảo – Trung Hưng, Thượng đẳng thần | Thôn Tân Phong, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc phường An Bình, tỉnh Gia Lai) |
| 05 | Thái Giám Bạch Mã | 1911 | Duy Tân | Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang – Dực Bảo – Trung Hưng, Thượng đẳng thần | Thôn An Thuận, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc phường An Bình, tỉnh Gia Lai) |
| 06 | Bạch Mã | 1911 | Duy Tân | Đôn Ngưng – Dực Bảo – Trung Hưng, Chi thần | Thôn Tân Tạo, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc xã Cửu An, tỉnh Gia Lai) |
Năm 2022, trong quá trình khảo sát điền dã tìm hiểu di sản tư liệu tại An Khê, chúng tôi tình cờ phát hiện mẩu giấy lót dưới hộp sắc thần đình làng An Khê. Đó là bảng kê vắn tắt danh mục 5 đạo sắc thần tại thôn An Khê năm 1936, trong đó có 2 sắc nay đã không còn thấy. Thứ nhất là đạo sắc phong cấp năm 1851 thời vua Tự Đức, thần Bạch Mã được xếp vào bậc Tôn thần; thứ hai là đạo sắc phong cấp năm 1886 thời vua Đồng Khánh, thần Bạch Mã được xếp vào bậc Thượng đẳng thần. Như vậy, nếu tính thêm 2 sắc đã mất, nhưng còn thông tin chắc chắn kể trên, thì tại An Khê cũng như Tây Gia Lai, từ năm 1851 đến năm 1911 đã có 8 sắc phong dành cho thần Bạch Mã. Có điều lưu ý là, thần hiệu, phong hiệu và thứ bậc của thần Bạch Mã lại không thống nhất với nhau giữa các làng, như chúng ta thấy ở bảng kê trên. Một lưu ý khác nữa là, toàn bộ sắc trên đều thuộc loại “hợp phong” tức thần Bạch Mã được phong tặng chung với vị thần khác, hầu hết là với Thành Hoàng (trừ trường hợp tại thôn An Thuận, phong chung với 3 vị: Cao Các, Thành Hoàng, Thổ Địa), không thấy riêng phong mỗi vị 1 sắc như trường hợp của thần Thiên Y A Na, Thành Hoàng hay các vị Quan Thánh, Cửu Thiên cũng trong địa bàn An Khê xưa.
Tuy nhiên nếu căn cứ vào đây để cho rằng Bạch Mã không phải là “thần chủ”, mà chỉ được “phối thờ” như một vị thần phụ, là thú cưỡi của thần Thành Hoàng thì cũng không đúng. Bởi căn cứ theo thứ bậc phẩm trật như các đạo sắc phong cấp cho thôn An Khê năm 1909, thôn Tân Phong năm 1911, thôn An Thuận cho biết, thì thần Bạch Mã được xếp vào bậc “Thượng đẳng thần” tương đương bậc 1, còn Thành Hoàng được hợp phong chung sắc chỉ được xếp vào bậc “Chi thần” tương đương bậc 3.
Hiện tượng này đưa đến suy nghĩ, tại An Khê xưa, có thể không phải chỉ có 1 vị thần Bạch Mã với những danh hiệu, phẩm trật khác nhau, mà có thể có nhiều vị thần Bạch Mã cùng tồn tại, mỗi vị bảo hộ cho một cộng đồng, cùng với các vị thần chính khác. Và cấu trúc “tam vị”: Thiên Y – Bạch Mã – Thành Hoàng trong tín ngưỡng dân gian ở Tây Gia Lai phải chăng không phải là một cấu trúc được sắp đặt theo thứ bậc cao thấp hay mức độ ảnh hưởng đối với dân làng của một cộng đồng, mà là cấu trúc được sắp xếp theo thứ tự xuất hiện trong lịch sử và vai trò của các vị thần ở tầm quốc gia được ghi nhận tại làng xã?
Chúng ta biết rằng, Thiên Y A Na là danh xưng của một vị thần có nguồn gốc Champa phổ biến ở miền Trung và miền Nam. Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na phổ biến ở Việt Nam, được sự công nhận sớm của nhà Nguyễn một mặt khép lại lịch sử huy hoàng của một vương triều, mặt khác là sự ghi nhận công lao đi trước của những “tiên dân” (dân tộc có công tiên phong trong việc mở đất) Chiêm Thành. Sự ghi nhận này được thể hiện rõ trong sắc phong của triều đình và tục cúng “tá thổ” (mượn đất) thịnh hành trong dân gian các địa phương từng có người Chăm sinh sống, bao gồm đông và tây Gia Lai. Những phát hiện khảo cổ gần đây còn cho biết, người Champa đã xuất hiện tại Tây Nguyên từ hàng nghìn năm trước, thậm chí đền tháp Chiêm Thành tại Tây Gia Lai còn hình thành sớm hơn Đông Gia Lai đến mấy trăm năm. Vì thế chúng ta sẽ không lạ nếu thấy tại Tây Gia Lai phổ biến tục thờ Thiên Y A Na.
Bạch Mã hay Thái Giám Bạch Mã là vị thần đến nay vẫn khiến các nhà nghiên cứu văn hóa đau đầu, từ danh xưng đến nguồn gốc đều bí ẩn và phức tạp, chưa có nhiều sự đồng thuận. Có ý kiến cho là liên quan đến Nho giáo, Đạo giáo du nhập từ Trung Quốc; có ý kiến cho là liên quan đến Phật giáo, Champa du nhập từ Ấn Độ; cũng có ý kiến cho là liên quan đến tín ngưỡng bản địa. Riêng chúng tôi, cho rằng tín ngưỡng Bạch Mã ở Tây Gia Lai có tính chất tổng hợp, bởi tính giao lưu tổng hòa cao, do đây là nơi hội tụ nhiều dân tộc và văn hóa.
Thành Hoàng tuy giữ “danh phận” thấp hơn về thứ bậc bởi là “người đến sau”, quyền lực chỉ gói gọn trong phạm vi một làng xóm cụ thể, nhưng vị thần lại có “thực quyền”. Trong hệ thống tín ngưỡng tại làng xã, Thành Hoàng được xem là vị thần thân cận nhất của con người, là vị thần chính, có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến đời sống tâm linh của con người. Ngay cả những nơi chuyên chú vào việc thờ “Bà” như Dinh Bà ở xã Cửu An, miếu An Tân và miếu An Xuyên ở phường An Khê, thì các vị nữ thần dù ở thứ bậc nào, tại đây cũng giữ vai trò là Thành Hoàng bảo hộ dân chúng trong một xóm/vạn cụ thể. Vì thế nhiều khi Thành Hoàng cũng được xem là thần Thổ địa của làng.
Tại Gia Lai, Bạch Mã là vị thần phổ biến ở hàng thứ ba sau Thành Hoàng và Thiên Y A Na trong số các thần linh được người dân tin thờ và chính quyền công nhận bằng sắc phong. Tuy nhiên, thực tế ngày nay người dân chỉ biết và hình dung được quyền năng thần “Thành Hoàng” và sau đó là “Bà” (cách gọi của dân gian dành cho các nữ thần được thờ cúng tại địa phương: Thiên Y, Ngũ Hành, Thủy Long, Cửu Thiên, Vạn Phước, Man Nương…), còn gần như không ai biết đến thần Bạch Mã ngoài những người làm trong ban nghi lễ các đình miếu được nghe xướng tôn danh ngài khi tế tự.
Dưới đây chúng tôi xin dịch giới thiệu toàn văn 3 đạo sắc phong dành cho thần Bạch Mã tại 3 thời điểm khác nhau: 1880, 1909 và 1911. Trong đó phần nguyên văn mời quý vị độc giả xem ảnh minh họa, phần phiên âm Hán Việt chúng tôi chọn đạo sắc đầu tiên làm ví dụ, còn lại là dịch nghĩa. Những thông tin chi tiết khác liên quan đến các đạo sắc phong này, chúng tôi đã giới thiệu ở trên.
Đạo sắc phong thứ nhất:
Phiên âm: Sắc chỉ Bình Định tỉnh, Tuy Viễn huyện, An Khê thôn, tòng tiền phụng sự: Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang – Bạch Mã Thượng đẳng thần; Bảo An – Chính Trực – Hựu Thiện – Đôn Ngưng Bản cảnh Thành Hoàng Chi thần. Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kì phụng sự Tự Đức tam thập nhất nhiên chính trị Trẫm ngũ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai.
Tự Đức tam thập tam niên, thập nhất nguyệt, nhị thập tứ nhật.
Dịch nghĩa: Sắc cho thôn An Khê thuộc huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Trước đây thôn đã thờ: thần Bạch Mã mỹ hiệu Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang, bậc Thượng đẳng thần và thần Thành Hoàng bản xứ mỹ hiệu Bảo An – Chính Trực – Hựu Thiện – Đôn Ngưng, được triều đình ban sắc công nhận. Năm Tự Đức 31, nhân dịp Trẫm lễ khánh thọ ngũ tuần, gia cấp phong tặng, chuẩn cho dân làng tiếp tục thờ phụng các ngài, mở rộng thêm điển lễ quốc gia. Nay sắc.
Ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880).

Đạo sắc phong thứ hai:
Dịch nghĩa: Sắc cho thôn An Khê thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Trước đây thôn đã thờ các vị thần được triều đình ban sắc công nhận là: thần Bạch Mã mỹ hiệu Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang – Dực Bảo – Trung Hưng, bậc Thượng đẳng thần; thần Thành Hoàng mỹ hiệu Bảo An – Chính Trực – Hựu Thiện – Đôn Ngưng – Dực Bảo – Trung Hưng. Năm Duy Tân thứ nhất, nhân đại lễ đăng cơ lên ngôi báu, lại ban chiếu gia cấp phong tặng, chuẩn cho dân làng tiếp tục thờ phụng các ngài, mở rộng thêm điển lễ quốc gia. Nay sắc.
Ngày 11 tháng 8, năm Duy Tân thứ 3 (1909).

Đạo sắc phong thứ ba:
Dịch nghĩa: Sắc cho thôn Tân Tạo phụng thờ ngài Bạch Mã và ngài Thành Hoàng bản cảnh. Các ngài giúp nước che dân, tỏ rõ linh ứng, mà trước đây chưa được ban cấp sắc văn. Nay ta lãnh sứ mạng lớn, phong tặng mỹ hiệu cho ngài Bạch Mã là: Đôn Ngưng – Dực Bảo – Trung Hưng chi thần; phong tặng mỹ hiệu cho ngài Thành Hoàng là: Bảo An – Chánh Trực – Hựu Thiện – Đôn Ngưng – Dực Bảo – Trung Hưng chi thần. Chuẩn cho dân làng thờ phụng các ngài theo lệ cũ. Mong các ngài che chở cho con dân của ta. Nay sắc.
Ngày mùng 8 tháng 6 nhuận, năm Duy Tân thứ 5 (1911).

Ý nghĩa văn hóa của thần Bạch Mã được phản ánh đầy đủ trong những mỹ từ đẹp đẽ ca ngợi quyền năng và đức độ của thần ghi trên sắc phong. Đầy đủ nhất là phong hiệu gồm 16 chữ: “Dương Uy – Ngự Vũ – Bảo Chướng – Kiện Thuận – Hòa Nhu – Hàm Quang – Dực Bảo – Trung Hưng”, nghĩa đen là: Oai phong, vượt qua khó khăn, che chở, mạnh mẽ, ôn hòa, đẹp đẽ, bảo vệ, giúp đỡ, hưng thịnh. Đây vừa là những đặc tính của loài ngựa trong thực tế mà con người nhận biết đúc kết được, vừa là phẩm chất đặc trưng cho thần Bạch Mã.
Từ đây cũng có thể suy luận rằng, thần Bạch Mã trong tín ngưỡng Việt Nam ban đầu là sự tôn kính của con người dành cho loài ngựa, thể hiện cụ thể ở một vài trường hợp nào đó như chúng ta còn thấy trong huyền thoại truyền thuyết, ghi nhận công lao to lớn, lòng trung thành của ngựa trong đời sống con người, nhất là trong các trận chiến gắn liền với các vị thần thánh, vua chúa, tướng lĩnh. Thần Bạch Mã lúc này có hình tướng nguyên thủy là con ngựa, vật cưỡi của thần chủ. Theo thời gian, dần dần chuyển hóa thành một vị thần vô hình, chỉ có danh hiệu ghi trên văn cúng và miếu thờ, trở thành một trong số các vị Thành Hoàng bảo vệ cũng như tượng trưng cho ước mơ khát vọng của dân làng tại các địa phương, nhất là đối với lưu dân trong hành trình Nam tiến, Tây tiến đến những vùng đất mới cần sự mạnh mẽ, dũng cảm, kiên trì của loài ngựa.

Tại những vùng miền khi việc khai hoang lập ấp gian nan ban đầu đã tạm xong, người ta chú ý đến việc giao thương, thì thần Bạch Mã lại trở thành Tài thần, Phúc thần biểu tượng của tài lộc, may mắn, thành đạt. Điều này cũng phản ánh rõ trong sắc phong thần với mỹ tự “Quảng Lợi Đại Vương” như còn thấy ở một số vùng thuộc miền Bắc, miền Trung. Một số nơi vẫn giữ được tục thờ tượng Ngựa trong đình miếu chùa chiền, người dân thường đến rung chuông, ôm cổ, chui qua bụng hay đầu ngựa để cầu sức khỏe, may mắn.
Tín ngưỡng thờ thần Bạch Mã trong văn hóa Việt Nam nói chung và Tây Gia Lai nói riêng ngày nay đã chuyển biến theo một hình thái mới. Người ta hướng nhiều hơn đến khía cạnh biểu trưng văn hóa và vẻ đẹp đời sống qua hình tượng con Ngựa, hơn là hướng đến tính thiêng thánh huyền bí như trong văn hóa thời xưa. Như chúng ta thấy khá rõ ràng trong tranh, ảnh, tượng tạo hình Ngựa treo hoặc đặt tại phòng khách của các tư gia, công ty với 4 chữ đi kèm “Mã Đáo Thành Công” như một biểu tượng, đồng thời cũng như một lời cầu chúc nhau cùng may mắn, thành đạt trong công việc, cuộc sống.
Ý nghĩa văn hóa trong hình tượng con ngựa thuộc giai đoạn lịch sử hiện đại kể trên thực ra không phải là sự triệt tiêu hay đối lập với ý nghĩa văn hóa trong hình tượng con ngựa thuộc giai đoạn lịch sử truyền thống, mà thực tế đó là sự nối tiếp, kế thừa có chọn lọc những giá trị văn hóa cổ truyền. Bởi vì rằng cái cốt lõi trong tín ngưỡng thần Bạch Mã của dân gian xưa kia là: Cầu mong có sức khỏe dẻo dai, vượt qua mọi trở ngại, bền lòng gắng chí trong công việc, trong học hành để đạt thành công, góp sức xây dựng, bảo vệ và phát triển quê hương giàu đẹp, đất nước hưng thịnh – vốn có từ truyền thống, thì đến ngày nay vẫn vẹn nguyên ý nghĩa và giá trị tốt đẹp mà chúng ta ai ai tiếp tục cũng hướng đến.
Nghĩa rằng, ngày nay con ngựa với những ý nghĩa biểu trưng tốt đẹp của nó từ truyền thống cổ xưa, vẫn đang sống, đang đồng hành với chúng ta trong đời sống tinh thần đương đại.
TS. LƯU HỒNG SƠN



