Thành Hoàng Đế trong tiến trình lịch sử và diện mạo một địa điểm hai lần kinh đô

(VNGL – Nghiên cứu & Phê bình). Thành Hoàng Đế thuộc An Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ), di tích duy nhất còn lại của vương triều Tây Sơn. Một địa điểm hai lần kinh đô (Đồ Bàn, Hoàng Đế) của hai triều đại (Vijaya, Tây Sơn), hai tộc người (Chăm, Việt), trong hai giai đoạn lịch sử cách nhau hơn 300 năm và là kinh đô xa nhất của người Việt về phương Nam. Một công trình kiến trúc thành cổ khá đặc biệt, sau sáu lần khai quật khảo cổ phục vụ nghiên cứu và trùng tu, đến nay tòa thành vẫn còn nhiều ẩn số…

Từ kinh đô Đồ Bàn
Cuối thế kỷ X, các vua triều đại Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) tiến hành chiến tranh với Đại Cồ Việt, do hậu quả để lại của việc tàn phá, người Champa đã dời đô từ Indrapura (Quảng Nam) xuống Vijaya (Bình Định), được tính từ sau cuộc chinh phạt của Lê Hoàn, thành lập vương triều Vijaya năm 990 và kết thúc năm 1471. Theo thư tịch cổ, thành Champa có nhiều tên gọi: Vijaya, Phật Thệ, Trà Bàn, Chà Bàn, Đồ Bàn qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. Tên gọi Chà Bàn được sử liệu Đại Việt chép sớm nhất vào thời Lê (1403) và sử dụng nhiều nhất, một số sử liệu về sau gọi là thành Đồ Bàn.

Theo khảo sát của H. Parmentier ở đầu thế kỷ XX, tòa thành có mặt bằng hình chữ nhật, hướng Đông – Tây, dài 1.400m, rộng 1.100m, góc thành bắt góc vuông vức. Tường thành đắp đất đầm chặt, lõi tường thành xây đá ong vững chắc. Sách Đại Nam nhất thống chí, chép: “Thành cũ Chà Bàn ở địa phận 3 thôn: Nam Định, Bắc Thuận, Bả Canh về phía Đông – Bắc huyện Tuy Viễn, xưa là quốc đô của Chiêm Thành, chu vi 30 dặm, trong thành có tháp cổ, có nghê đá, voi đá đều của người Chiêm Thành”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, chép: năm 1301, “tháng 3 Thượng hoàng vân du khắp nơi, sang Chiêm Thành… Mùa đông tháng 11 Thượng hoàng từ Chiêm Thành trở về”. Theo lời hứa của Thượng hoàng Trần Nhân Tông khi thăm Chiêm Thành, năm 1305, “tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn 100 người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ cầu hôn… Tháng 6 gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành – Chế Mân”.

Bản vẽ ký họa thành Đồ Bàn của H. Parmentier. Ảnh: Tư liệu

Năm 1306, kinh đô Đồ Bàn ghi dấu ấn quan trọng trong quan hệ Việt – Chăm: vua Chế Mân cưới công chúa nhà Trần là Huyền Trân rước về thành Đồ Bàn với của hồi môn cho Đại Việt là nhượng hai châu Ô, Lý. Năm 1307, nhà Trần đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận, châu Hóa. Châu Thuận bao gồm các huyện: Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị), Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà (Huế) ngày nay. Châu Hóa bao gồm các huyện: Phú Lộc, Phú Vang (Huế), Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên (Đà Nẵng) ngày nay. Sau khi vị vua hùng mạnh cuối cùng của vương quốc Champa là Chế Bồng Nga đang trên đường tấn công Thăng Long của Đại Việt bị tử trận trong trận thủy chiến tại sông Luộc (Thái Bình), đã dẫn đến Champa suy yếu, vua Champa phải nhường đất Chiêm Động (Quảng Nam) và Cổ Lũy (Quảng Ngãi) cho Đại Việt. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, chép: Năm 1469, “Người Chiêm Thành đi thuyền vượt biển tới cướp phá quấy nhiễu châu Hóa”, mà đỉnh cao là năm 1470 “Quốc vương Chiêm Thành – Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn 10 vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp châu Hóa. Tướng trấn giữ biên thùy ở châu Hóa là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành rồi cho chạy thư cáo cấp”. Vua Lê Thánh Tông quyết định tự cầm quân đi chinh phạt, “vua xuống chiếu thân hành đi đánh Chiêm Thành”, mở chiến dịch ngày 6 tháng Giêng năm Hồng Đức thứ 2 (1471).

Vua Lê Thánh Tông chiếm kinh đô Đồ Bàn, tháng 3 năm 1471 Đại Việt mở đất đến núi Thạch Bi, sáp nhập vào Đại Việt, lập đạo Quảng Nam thừa tuyên, vùng đất Vijaya trở thành một đơn vị hành chính của Nhà nước Đại Việt – phủ Hoài Nhơn, là một trong 3 phủ thuộc đạo thừa tuyên Quảng Nam. Chấm dứt gần 5 thế kỷ tồn tại của kinh đô Đồ Bàn.

Đồ Bàn – Vijaya là nơi định đô dài nhất trong tiến trình lịch sử của vương quốc Champa. Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một vương triều tồn tại gần 5 thế kỷ với 36 đời vua, khởi đầu là vua Harivaraman II/ Băng Dương La Duệ (990-999) và vị vua cuối cùng là Bàn La Trà Toàn (1460-1471), đánh dấu một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước Champa trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt về kinh tế biển với thương cảng Thị Nại và nghề sản xuất gốm. Tôn giáo, nghệ thuật kế thừa truyền thống, tiếp thu văn hóa các cộng đồng dân tộc lân cận hình thành bản sắc văn hóa độc đáo, phong cách nghệ thuật kiến trúc Tháp Mẫm còn gọi là phong cách Bình Định, là đỉnh cao điêu khắc kiến trúc của nền văn hóa Champa trong lịch sử. Dấu ấn lịch sử – văn hóa người Champa để lại trên vùng đất Vijaya – An Nhơn ngày nay khá độc đáo và đậm đặc, gồm nhiều loại hình: thành quách, đền đài…, phản ánh các thời kỳ lịch sử khác nhau. Thành Đồ Bàn qua nhiều triều đại định đô, xây dựng kiến thiết với quy mô to lớn. Trải qua các cơn binh lửa, sự tác động của thiên nhiên và con người, đến nay dấu vết thành lũy còn lại khá rõ.

Đến kinh đô Hoàng Đế
Trước sự phát triển lớn mạnh của nghĩa quân Tây Sơn, nhận thấy thành cũ Quy Nhơn chật hẹp, Nguyễn Nhạc cho dời đại bản doanh lên thành Đồ Bàn. Năm 1776, sau khi giành thắng lợi trên vùng đất từ Phú Yên đến Quảng Nam, Nguyễn Nhạc cho sửa đắp và mở rộng thành Đồ Bàn, đào lấy đá ong xây thành lũy, cung điện. Từ năm 1776 đến 1778, với sự huy động sức người, sức của từ quân dân 4 phủ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên), thành được xây dựng, tu sửa xong. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tại đây, Nguyễn Nhạc làm lễ lên ngôi “tự lập làm Hoàng Đế, gọi năm đầu tiên là Thái Đức, gọi thành Đồ Bàn là thành Hoàng Đế”, trở thành kinh đô đầu tiên của vương triều Tây Sơn… Ghi chép tường tận nhất về thành Hoàng Đế là Tây Sơn Nguyễn Thị ký của Nguyễn Văn Hiển được viết sau thời Tây Sơn không xa, như sau: “Dã sử chép: Tây Sơn – Nguyễn Nhạc xây thêm thành Xà Bàn để trú đóng, rồi mệnh danh là thành Hoàng Đế… Đến đời nhà Lê năm Bính Thân (1776), tức niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 37 và Tây Sơn – Nguyễn Nhạc năm thứ 4, bèn nhân đó mà đóng đô, mở rộng cửa Đông kéo dài tới 15 dặm, tường thành được đắp cao rồi xây bằng đá ong, bề cao tới 1 trượng 4 thước, bề dày 2 trượng, mở thêm 1 cửa, thành ra 5 cửa; riêng phía trước có 2 cửa, bên tả là cửa Tân Khai, bên hữu là cửa Vệ Môn, tức là cửa Nam xưa của Chiêm Thành mà ông Nhạc vẫn để như cũ, sau vì xét thấy cửa tả hơi lệch về phía hữu, vả lại ở phía trước mặt cung thất không tiện cho sự vận chuyển, bèn mở thêm một cửa ở phía tả gọi là Khai Môn, còn cửa bên hữu vẫn để nguyên… Phía Tây – Nam có đàn Nam Giao để tế trời đất; trong thành xây thành con (Tử thành), chính giữa có điện Bát Giác trong đó thờ Võ Tánh công; phía sau là điện Chánh Tẩm (nơi ngủ của nhà vua), trước mặt có lầu Bát Giác; hai bên dựng hai nhà thờ; bên tả thờ tổ tiên ông Nhạc; bên hữu thờ tổ tiên bà Nhạc; trước lầu có cung Quyền Bổng; hai bên có dãy hành lang là nơi làm việc, trước cung mở cửa Tam Quan cũng gọi là cửa Quyền Bổng hay là cửa Nam Lâu mà cửa Vệ Môn đứng trước mặt; lại còn núi Kim Sơn tức núi Thiền Khâu (do ông Nhạc đặt tên) có miếu Kiến Võ trong có thờ Cửu Thiên Huyền Nữ và các lương tướng, nền cũ vẫn còn. Bên trong thành thì có nghê đá, voi đá, ngoài thành thì có ông Thiện ông Ác bằng đá”.

Thành ngoài là giới hạn không gian đầu tiên của kinh đô, được xây dựng kiên cố, thành cao lũy sâu, chức năng chủ yếu về quân sự – “quân thành”. Hầu hết tường thành được đắp trên nền đất đồi đá ong, những nơi nền đất yếu thành được kè đá, ruột tường thành xây đá ong làm cốt, hai bên đắp đất. Mặt tường ngoài xây đứng, mặt trong thành xây thấp dần để tiện lên xuống. Chính giữa tường thành phía Nam, hiện còn hai cột đá, cạnh 0,7m x 0,65m, cao chừng 3m, chôn vững chắc giữa mặt tường. Nhân dân địa phương gọi là hai Ông Sấm, bởi theo truyền thuyết, hai cột đá dùng để cột hai khẩu súng thần công lớn bảo vệ thành. Trong những năm 1996 – 1998, khi đào đất chân thành gần hai cột đá, người dân phát hiện một hầm đạn súng thần công bằng gang nhiều cỡ, trong đó có những viên kích thước lớn nặng 23kg.

Hiện nay, tường thành phía Nam còn nguyên vẹn nhất, ba mặt còn lại bị thiên nhiên và con người xâm hại khá nhiều. Theo TS. Lê Đình Phụng (Viện Khảo cổ Việt Nam): Tường thành phía Nam dài 2.253m, tường thành hiện còn cao nhất, kiên cố nhất so với ba mặt tường thành còn lại và được mở hai cửa. Tường thành phía Đông dài 1.627m, tường thành hiện còn cao 1,2m – 1,5m, mặt thành rộng 3m – 6m, chân thành rộng từ 20m – 30m, bên ngoài ruộng thấp là dấu vết của hào xưa. Tường thành phía Bắc dài 2.230m, sông La Vỹ chạy ôm vòng ngoài bờ thành từ hướng Tây qua hướng Bắc được coi là hào lũy bảo vệ cả mặt Bắc và mặt Tây thành, tường thành hiện còn cao 1,5m – 2,5m, mặt tường rộng 3m – 6m, chân thành rộng từ 10m – 15m. Tường thành phía Tây dài 1.630m, được đắp nối các gò thấp với nhau, nhiều đoạn uốn lượn theo địa hình nên không thẳng, tường thành hiện còn cao 1,5m – 3m, mặt tường rộng 3m – 5m, chân tường rộng 7m – 10m. Thành Hoàng Đế là một trong những thành cổ có quy mô khá lớn trong hệ thống thành cổ Việt Nam, chu vi thành: 7.740m, diện tích toàn thành: 3.648.348m².

Hai lần kinh đô, ba tầng văn hóa
Trên cùng một địa điểm, lần lượt hiện diện hai tòa thành của hai vương triều, hai tộc người cách nhau hơn 300 năm, cùng giữ vai trò kinh đô trong mỗi giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, nguồn sử liệu về hai tòa thành, hai kinh đô này lại quá ít. Dưới thời kinh đô Đồ Bàn – Vijaya, nhiều lần bị chiến tranh tàn phá, kinh đô liên tục được tu bổ, phục hồi, xây dựng ở nhiều thời điểm khác nhau, kiến trúc sau xây chồng xếp lên nền móng kiến trúc trước. Sau khoảng 300 năm hoang phế, thành Đồ Bàn được Nguyễn Nhạc cho tu sửa. Ngoài việc mở rộng quy mô, đào đắp kiên cố, nhiều công trình kiến trúc được xây dựng trên nền móng kiến trúc cũ. Di tích kiến trúc kinh đô Đồ Bàn xưa hầu như bị lớp kiến trúc thời Tây Sơn phủ lấp.

Năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm thành Hoàng Đế “đổi tên thành ấy gọi là thành Bình Định, để Chưởng hậu quân Võ Tánh và Lễ bộ Thượng thư Ngô Tùng Châu trấn thủ” (Đại Nam liệt truyện chính biên). Đầu năm 1800, quân Tây Sơn vây hãm thành Bình Định; gần 20 tháng giữ thành, quân Nguyễn cạn kiệt lương thực. Ngày 25 tháng 5 năm Tân Dậu (5.7.1801), Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tự tử, một ngày sau Võ Tánh tự thiêu ở lầu Bát Giác. Trần Quang Diệu, tướng nhà Tây Sơn chiếm lại thành. Tháng 6.1801, Phú Xuân thất thủ; tháng 4.1802, quân Tây Sơn bỏ thành Hoàng Đế, theo đường Thượng đạo rút quân ra Nghệ An. Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành đưa quân vào chiếm lại thành Bình Định.

Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, kinh đô Hoàng Đế bị triệt hạ, xây dựng trấn thành Bình Định. Năm 1808, xây dựng trấn thành Bình Định ở Tân An thuộc huyện Tuy Viễn (Đại Nam nhất thống chí). Khi xây thành Bình Định, nhà Nguyễn cho tháo dỡ thành Hoàng Đế tận dụng vật liệu đá ong. Để tưởng nhớ hai trung thần Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, nhà Nguyễn cho xây dựng lăng mộ Võ Tánh và đền Song Trung ngay trên nền cung điện hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc.

Một lần nữa, địa điểm hai lần kinh đô bị chiến tranh nội chiến tàn phá, san bằng, một lớp văn hóa mới của nhà Nguyễn tiếp tục chồng lấp lên hai lớp văn hóa Champa và Tây Sơn. Cung điện và toàn bộ kiến trúc cung đình kinh đô đầu tiên của triều đại Tây Sơn bị chôn vùi trong lòng đất.

Những phát lộ từ lòng đất
Trong những năm gần đây, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu những đóng góp của nhà Tây Sơn trong lịch sử, thành Hoàng Đế cũng được biết đến nhiều hơn qua sáu cuộc khai quật khảo cổ học, diện mạo thành Hoàng Đế dần lộ diện sau khi được khảo cổ học phát lộ một số di tích kiến trúc cung đình như: nền móng cung điện Bát Giác, cung Quyền Bổng, các thủy hồ hình trăng khuyết, hồ hình lá đề, đàn Nam Giao…

Thành Hoàng Đế. Ảnh: Đào Phan Minh Cần

Đáng chú ý là cuộc khai quật khảo cổ học lần thứ 5 năm 2012, nhằm thu thập tư liệu phục vụ lập luận chứng và cơ sở khoa học cho công tác trùng tu, phục hồi, tôn tạo khu di tích Tử thành. Với 5 hố khai quật, tổng diện tích 550m², các nhà khảo cổ đã làm xuất lộ thủy hồ hình trăng khuyết phía Đông điện Bát Giác (đối xứng với hồ phía Tây), cùng các đoạn tường thành phía Đông kéo dài lên phía Bắc và các góc thành Đông – Bắc, Tây – Bắc khu Tử thành.

Kết quả khai quật đã làm rõ không gian khu Tử thành (thành con) được mở rộng về phía Bắc, có mặt bằng hình chữ nhật theo hướng Bắc – Nam có chiều dài 312m, rộng 126m và chia làm hai khu, ngăn cách bởi bức tường đá ong, có một cửa thông nhau ở giữa tường ngăn. Khu phía Nam – khu hành cung, dài 174m, rộng 126m, cửa chính mở về hướng Nam với các di tích kiến trúc thời Tây Sơn như điện Bát Giác, Thủy hồ, cung Quyền Bổng, nhà thờ tổ tiên vua Thái Đức – Nguyễn Nhạc… Khu phía Bắc – nơi sinh hoạt của hoàng tộc, dài 138m, rộng 126m, có dấu vết điện Chánh Tẩm (nơi ngủ của nhà vua) và Hậu cung. Trước khi khảo cổ học can thiệp, chúng ta chỉ biết kinh đô Đồ Bàn, kinh đô Hoàng Đế qua sử liệu, chủ yếu là Tây Sơn Nguyễn Thị ký (Đồ Bàn thành ký) của Nguyễn Văn Hiển viết vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Quá trình cư trú và canh tác của người dân nhiều thế kỷ qua, đã làm biến dạng phần lớn các bờ tường thành ngoại. Khu “Tử thành” rất khó xác định, tường thành và tất cả kiến trúc cung đình của vương triều Thái Đức – Nguyễn Nhạc bị nhà Nguyễn triệt hạ và chôn vùi trong lòng đất, ngoại trừ 3 đoạn tường thành bằng đá ong bị thời gian bào mòn, bao quanh khu vực lăng mộ Võ Tánh.

Khảo cổ học đã giúp chúng ta ngày nay hiểu được rằng: dù xây dựng và tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng diện mạo kinh thành Hoàng Đế của Thái Đức – Nguyễn Nhạc đã khẳng định sự quy chỉnh, bề thế một hoàng cung của Vương triều. Tuy nhiên, một số dấu tích được cho là “nền cung cũ”, “nền hậu cung” (dựa theo khảo tả trong Tây Sơn Nguyễn Thị ký của Nguyễn Văn Hiển) vẫn còn tồn nghi vì chưa đủ chứng cứ khoa học thuyết phục; cấu trúc và không gian khu “Tử thành” còn tồn tại những ý kiến khác nhau. Các nhà khảo cổ đã dựng một sơ đồ: “Tử cấm thành và thành Nội” (theo mô hình thành của Trung Quốc) nhưng chưa đủ cơ sở khoa học để xác định cấu trúc và không gian của hai vòng thành. Do vậy, việc trùng tu thành Hoàng Đế đến nay chỉ mới phục hồi tường thành Nam cùng một đoạn của tường thành Đông và một đoạn tường thành Tây khu “Tử thành”.

Theo dòng lịch sử, thành Đồ Bàn còn là địa điểm của những thành mang tên khác, cho thấy những biến động sâu xa. Thành Đồ Bàn, kinh đô Champa: 990 – 1471. Phủ lỵ Phủ Hoài Nhơn và Lỵ sở đạo thừa tuyên Quảng Nam: 1471 – ?, rồi bị bỏ hoang phế. Thành Hoàng Đế: 1776 – 1801. Thành Bình Định: 1802 – 1808 (năm Gia Long thứ 7). Lăng Võ Tánh: 1808 đến nay.

Để hoạch định cho việc nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn và phát huy di tích thành Hoàng Đế, cần có những ý kiến tham luận của các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, kiến trúc… Và cơ quan chức năng cần tiếp tục tổ chức khai quật khảo cổ, xác định mục tiêu khai quật khảo cổ nhằm nghiên cứu khoa học, phục vụ công tác phục hồi, bảo tồn và phát huy di sản trước mắt và lâu dài, tránh tình trạng áp đặt, gán ghép lịch sử. Như vậy, mới có thể sớm đánh thức một di sản văn hóa hiếm quý của dân tộc – một địa điểm hai lần kinh đô, ba tầng văn hóa, biến nơi đây trở thành một điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước.

NGUYỄN THANH QUANG

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Một cánh chuồn hửng lửa đến bao la

Soi vào tự nhiên, trong lặng im của núi, người nghe ra bao điều. Lữ Hồng đối lập tự nhiên với cõi người, với những chệch, sắm vai, rối, với lời nhắc bọn trẻ không thả gì về quá khứ…

Bông trang đỏ – hương thơm từ kỷ niệm

“Bông trang đỏ” là tập truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Đặng Thùy Trang, ra mắt vào cuối năm 2025. Gồm mười ba truyện ngắn, cuốn sách mở ra một thế giới giàu cảm xúc…

Nhịp vó không hóa đá

Trong một số tác phẩm, ngựa xuất hiện trong bối cảnh nghi lễ. Ở Trà Kiệu, ngựa đi cùng đoàn người của hoàng tử Rama trong trích đoạn Ramayana…