(VNGL – Truyện ngắn). Lão Bầu ngước mắt nhìn di ảnh cha mẹ lão. Rồi lão nhìn sang cây đàn bầu. Hai hốc mắt sâu trũng của lão bỗng rớt xuống từng hột nước đùng đục. Lão đưa tay quệt lấy thì thấy nhờ nhợ sắc đỏ.
Bên ngoài trời đầy gió. Hai cánh cửa sổ bị giật tung, va đập vào nhau liên tục. Căn nhà nhỏ thó của lão giờ bỗng rộng thênh thang. Ánh trăng sâm sẫm màu huyết dụ soi qua mái ngói mục nát vào tận trong nhà. Vùng sáng sâm sẫm của bóng trăng rọi xuống nền gạch tối khiến không gian ngôi nhà trở nên ma mị.
Lão vớ lấy bình rượu nơi bộ ván ngựa đã bải hoải tuổi thời gian. Lão rót lấy ba ly nhỏ đặt lên bàn thờ cha. Rút nắm nhang, lão đốt lên và cắm vào lư hương.
Khói nhang lãng đãng. Lão Bầu đứng trơ trước bức di ảnh. Lão nghe từng tiếng đàn bật ra, vỡ giữa thinh không tịch mịch. Lão nhìn quanh quất, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy ai. Chỉ thấy cây đàn bầu đặt bên cạnh di ảnh cha mẹ lão rung lên.
Khói hương đưa lão vào một vùng trắng sáng. Vùng trắng sáng đó đang chảy tràn từ đỉnh đầu đến từng ngón chân lão. Ai đó đến bên lão. Dường như họ muốn dẫn dắt lão về với thế giới khác. Một thế giới khác hẳn cái thế giới đầy mùi trần tục và thị phi này. Thế giới ấy trong suốt tiếng đàn bầu và u buồn.
Kìa! Bóng người trước mặt lão chập chờn. Bóng dáng ai giống bóng dáng cha mẹ lão. Lại nữa kìa, lão thấy tầng tầng lớp lớp bóng người trắng toát gần xa ẩn hiện.
Lão nghe mùi của nhang khói. Cái mùi hương đã từng ám ảnh lão. Nó theo lão như hình với bóng. Mỗi lần nghe thấy nó là mỗi lần lão phải đối diện với sự tang tóc sinh li tử biệt. Thế gian này, không một tang gia nào dù gia cảnh nghèo khó hay sang giàu mà không đối mặt với nỗi đau chung: nỗi mất mát người thân. Nỗi đau thương đó quá lớn luôn ám ảnh những người từng chứng kiến nó. Lão đánh đàn đưa tang cho bao nhiêu con người. Những con người mắt đã nhắm nhưng những dục vọng vẫn sống. Những con người đã khép mắt xuôi tay nhưng những giấc mơ, những hoài bão chưa dừng lại. Lão lặng người, cúi đầu trước họ, tiễn đưa họ bằng giọt đàn bầu trầm buồn tha thiết. Nghe chốn mong manh xanh rì cỏ dại, cha lão cũng đang rót từng giọt đàn. Những giọt đàn của kiếp mong manh.
***
Sinh thời, cha lão thường hay nói chuyện về giấc mơ với lão. Ông bảo: “Giấc mơ của con người là một sự mộng du, một cuộc phiêu lưu giữa khát vọng và tuyệt vọng, để rồi từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi con người nhắm mắt vẫn còn đau đáu”. Lão chưa đủ lớn và cũng chưa từng trải cuộc đời để thông hiểu về triết lí giấc mơ như cha lão nói. Với lão, nó xa xăm giống bước chân con người đi mãi chẳng tới được chân trời; nhưng con người vẫn phải bước, còn bước là còn tồn tại.
Không biết vì lẽ gì mà cha lão đặt tên cho lão là Bầu. Người đời đặt tên cho con thường gửi gắm vào đó một ý nghĩa sống nào đó. Cái tên cúng cơm của lão vận vào cây đàn bầu như một thứ duyên tiền định. Sáu tuổi lão thấy thích cái tên của mình. Lão từng mê mẩn ngồi suốt đêm nghe cha đánh đàn. Tiếng đàn trầm buồn đó khảm vào tâm hồn thơ ấu lão. Lão lẽo đẽo theo cha những buổi đánh đàn đưa tang và được cha truyền nghề từ lúc nào chẳng hay. Ngón đàn từ đời cha lão truyền sang đời lão hết sức tự nhiên giống máu huyết cùng cơ thể giao hòa lẫn nhau. Rồi từ lúc nào không rõ nữa, lão xem cây đàn bầu là một báu vật trên đời.
Năm lão hai mươi tuổi, lần đầu tiên trong đời mình, lão lang thang đi tìm giấc mơ của cha lão. Giấc mơ ấy gắn liền với cây đàn bầu. Tổ tiên lão bao đời gìn giữ tiếng đàn. Trải qua bao đời, cây đàn bầu gia truyền dòng họ lão cũng chỉ góp mặt hòa tấu trong những bữa nhạc đưa tang. Đời ông, rồi đến đời cha lão. Từ khi cha lão ý thức cây đàn bầu của dòng họ đã đến lượt mình gìn giữ, chính là lúc ông bắt đầu nuôi dưỡng giấc mơ. Ông không muốn mình mãi là người nhạc công tài hoa ở chốn đưa ma. Ông có khát khao, có hoài bão của riêng ông. Ông sẽ mang tiếng đàn bầu của dòng họ đi xa hơn. Nó không còn cái kiếp quẩn quanh như đời cha ông. Nhưng giấc mơ ấy tan tác đúng vào lúc cha lão hai mươi tuổi.
Cái tuổi hai mươi hanh hao tâm trí lão miền ký ức buồn man mác. Mỗi khi nhớ đến lão không cầm được nước mắt. Để trốn chạy nó, lão phải uống lấy một ngụm rượu. Rồi lão lại đem cây đàn của cha lão ra lau bụi bám trên thân đàn, bầu đàn – dù đôi lúc nó chẳng có dấu vết gì là bụi bám cả.
Cha lão vừa tròn tuổi hai mươi thì gặp mẹ lão. Ở xóm nghèo này, cha lão chỉ biết mượn tiếng đàn bầu để trải lòng mình. Thế rồi, mẹ lão vô tình nghe tiếng đàn cha lão. Ông bà xưa hay khuyên con gái mình không nên nghe tiếng đàn bầu, nên mới có câu: “Đàn bầu ai gảy nấy nghe/ Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”. Nhưng mẹ lão lại mê tiếng đàn của cha lão. Bà nghe tiếng đàn thấy lòng mình se thắt lại. Nghe tiếng đàn mà thương người gảy đàn. Tiếng đàn đã nuôi dưỡng một tình yêu lớn dần lên theo năm tháng. Thế là họ đến với nhau. Cha mẹ lão cưới nhau. Lễ cưới tuy tổ chức thật đơn sơ, dăm mâm cỗ, nhưng đón nhận được nhiều lời chúc phúc từ bà con xóm làng.
Một tháng sau ngày cưới, cha lão rất vui mừng vì biết tin mẹ lão đã có mang. Niềm hạnh phúc được làm cha làm mẹ vỡ òa khi lão oa oa cất tiếng khóc chào đời. Nhưng hạnh phúc trên cõi đời vốn mong manh. Mẹ lão hạ sinh lão xong, bà liền bị băng huyết. Bà may mắn thoát khỏi lưỡi hái của thần chết, nhưng bà lại phải đối diện với nỗi tuyệt vọng của sự sống. Hai chân bà bị bại liệt. Bà thấy mình trở thành gánh nặng cho chồng và suy sụp hẳn.
Mẹ lão cũng mất vào năm ấy. Tiếng đàn bầu cha lão nỉ non, tang tóc. Cha lão gảy đàn, ngón tay rỏ cả máu. Lúc sắp xa cha lão, bà gắng gượng thều thào, trăn trối cùng cha lão: “Vì em mà anh không đi đến được ước mơ của mình”. Mắt cha lão ngấn nước: “Con người đâu thể sống theo những gì mà mình ước muốn mà phải sống theo những gì mình có thể, em à!”. Mẹ lão khép mắt. Gió ầm ào xô phên cửa bật tung. Bóng mẹ lão mảnh khảnh bay lên bị gió thổi tan tác, rơi vương vất xuống từng giọt đàn. Khúc bi ca về kiếp người mong manh trong đêm sâu thẳm.
Cha lão trở thành gà trống nuôi con. Người già nua trước tuổi. Nỗi nhọc nhằn vì miếng cơm manh áo đã nhanh chóng ăn mòn thời trai trẻ. Bao lo toan chất chồng lên đầu ông, lại thêm việc nuôi dạy đứa con thơ dại mồ côi mẹ, khiến cha lão không còn thời gian để luyện ngón đàn. Tiếng đàn bầu của cha lão, vì thế, cũng trầm đục theo ngày tháng. Tiếng đàn không thể bay lên, bay xa… Tiếng đàn mãi bay quẩn quanh trên mái hiên đời. Hằng đêm, ông luôn đối mặt với giấc mơ mang nỗi buồn dai dẳng. Có một nỗi đau nào đó, ngày càng lớn dần lên, nó luôn giày xéo tâm can ông. Với ông, cuộc sống trước mặt là một mảng màu đen tối. Ước mơ ông từng ấp ủ ở cái thời trai trẻ tan biến, và khát vọng cũng tiêu tan tựa giấc mơ đêm trước ánh sáng của ngày. Ông đành như cha mình, với công việc gảy đàn đưa ma. Phận người là thế, muốn thoát cũng không thể thoát được! Kể từ đó, cha lão có thói quen ngồi một mình gảy đàn đến lúc nửa đêm.
Tiếng đàn bầu của cha lão càng trở nên ão não, xót xa, như một nỗi bi ai đứt từng đoạn ruột. Khúc đàn đưa tang của ông như là khúc bi ca cho chính mình. Con người, mắt vừa mở ra đã nhưng nhức những chân trời.
***
Cha lão mê vẻ đẹp của cây đàn bầu. Nhưng ông chẳng có duyên với nó. Ông không thể đi hết đời người, để mà khám phá vẻ đẹp của nó. Cha lão bỏ lão mà đi. Ông bảo: ông nhớ mẹ lão. Bà ấy đợi chờ ông lâu lắm rồi. Ông không đành lòng để bà ấy đợi chờ thêm nữa. Và ông đã về với mẹ lão trong một đêm trời đầy gió, lúc ông ngồi một mình độc tấu đàn bầu. Đêm ấy lão cũng vừa tròn hai mươi tuổi.
Đám tang cha lão vắng lặng, im bặt tiếng đàn. Chỉ nghe tiếng gió quẫy đạp bên ngoài trời gấp gáp. Đêm sâu hun hút. Lão ngồi bất động trên bộ ván ngựa, ôm chiếc quan tài. Trăng sắp lặn, rơi rớt từng miếng sáng nhờn nhợt xuống nền nhà loang lổ những hình thù kì dị. Bóng mẹ lão nhẹ nhàng thanh thoát bên cha lão. Họ ôm chầm nhau, nước mắt ứa ra, trong như giọt đàn bầu.
Mộ cha lão nằm trên khoảnh đồi đầy cỏ tranh chênh vênh gió. Nơi này là phần đất mà người trong làng dành làm khu nghĩa địa. Họ truyền tai nhau rằng: những ai được chôn cất ở đây, nếu sống khôn thì thác rất thiêng! Hôm lão chôn cất cha. Cỏ tranh trên đồi bật xanh rần rật. Lão bỗng nhìn thấy có đám mây đỏ sẫm hình cây đàn bầu bay ngang qua ngôi mộ, rồi mau chóng tan biến. Có lẽ cha lão đã hiển linh? Vì cha lão đã ra đi trong niềm đau tức tưởi khi ước mơ, khát vọng chưa thành! Lão quỳ sụp xuống ngôi mộ, tay bấu chặt vào nắm đất vừa đắp lên nấm mồ còn ấm nóng, như cố giữ một cái gì rất thiêng liêng.

Sau ngày cha lão mất, lão đã thay cha lão gảy đàn. Lão muốn tiếng đàn bầu cha lão mãi như cỏ xanh sống dưới bầu trời. Tiếng đàn đó có ích cho cuộc đời này. Con người lúc sống cũng như lúc chết, âm nhạc luôn là cần thiết với họ. Hơn nữa, tiếng đàn bầu ấy lại là kết tinh của tình yêu, của khát vọng một đời cha lão. Lão phải đem nó đi làm tươi đẹp tâm hồn con người, dẫu lúc ấy con người đó đã nằm dưới đáy quan tài. Những khi ngồi một mình trên bộ ván ngựa, nhìn ra khoảng trời trong vắt trước mặt, lão chạm phải khát vọng của cha. Khát vọng ấy cả đời ông không đi đến được. Lão phải đi tiếp ông. Lão muốn ông dưới suối vàng tâm hồn được thảnh thơi.
Và rồi, cứ mỗi lần lão ngồi trước cây đàn bầu của cha mình, lão nghe rõ mồn một tiếng nói ấm áp trầm buồn của cha lão, khi ông hấp hối: “Phận người là một khúc bi ca. Nhưng cha không còn đủ thời gian để đàn hết bản bi ca của cuộc đời. Cha giao cho con cây đàn. Con hãy gìn giữ lấy nó. Vì cha, con cố gắng đàn trọn khúc bi ca kiếp mong manh con người… Cha đi về với mẹ con đây! Cha thấy mẹ con rồi. Kìa, mẹ con đó! Ai? Ai đang dạo khúc đàn trong đến vậy? Ta đang nghe thấy nó. Trong quá! Trong văng vắt như nước cam lồ… Bầu à, con khóc hả con? Ừ thì con cứ khóc để lòng được thanh thản. Từng giọt nước mắt của con là từng giọt đàn. Trầm buồn và ão não. Nó là cái đẹp tâm hồn con, vẻ đẹp được tạo ra từ nỗi buồn man mác. Con hãy thay cha gìn giữ tiếng đàn cho dù nó chỉ được cất lên trong những buổi lễ tang… Cứ khóc đi con! Khóc mà đau! Giọt nước mắt con rơi đau tiếng đàn bầu. Đau lắm! Nhưng chạm vào là sẽ mất, sẽ tan… Cha đi. Con ở lại bình an…”.
***
Con người lúc rời bỏ thế gian, xác trả về cho cát bụi, nhưng hồn phách thì vẫn tồn tại. Tiếng đàn của lão có đưa được người đã khuất về thế giới bên kia, giúp họ thanh thảng, rũ bỏ được những dục vọng hồng trần, tìm về sự siêu thoát? Tiếng đàn đó có giúp những người chưa thực hiện được ước mơ, hoài bão của mình tìm được ước mơ, hoài bão ở thế giới bên kia? Lão luôn canh cánh. Những khi gảy đàn đối thoại với người đã khuất, lão cảm thấy mình bất lực trước cây đàn. Sống, thác có là như nhau? Tiếng đàn, khát vọng có là như nhau? Tại sao, những gì người đời chưa thực hiện được khi còn sống họ lại đem theo và tiếp tục nó ở thế giới bên kia chứ? Chẳng lẽ, đó là nỗi thống khổ cao đẹp mà kiếp con người hạnh phúc đưa tay đón nhận nó.
Sau mỗi bữa đánh đàn đưa tang trở về, lão hay ngồi trầm ngâm nơi bộ ván ngựa già nua thẫm ố. Bầu bạn với lão lúc này là bình rượu. Thường thì lão uống rất ít rượu. Lão không nghiện nó. Lão uống cùng cha lão! Uống chừng mực, chỉ một ngụm, giữ mình tỉnh táo mà tâm sự với cha. Lão mang đàn ra, một mình giữa đêm khuya độc tấu sau khi uống xong ngụm rượu. Tiếng đàn rưng rức hình giọt nước mắt. Lão lại nhớ cha lão một mình độc thoại với tiếng đàn. Thấy người đã khuất giữa chốn nhân gian ngóng điều xa vợi. Lão nức nở. Tiếng khóc đó như là tiếng khóc từ thuở thôi nôi. Tiếng sơ sinh ấy mang từng tia nắng, mang những giấc mơ và mang cả kiếp mong manh đời người.
Hai mươi tuổi, lão ôm cây đàn bầu của cha đi tiếp con đường của ông. Giờ tóc lão đã bạc trắng. Cây đàn bầu của cha theo lão đến bây giờ đã bạc thếch màu vì thời gian.
Lão đã già rồi! Cũng sắp trở về đoàn tụ cùng cha mẹ lão ở thế giới bên kia. Nhưng lão vẫn chưa thể nào đàn được trọn khúc bi ca về kiếp mong manh con người theo di nguyện cha lão. Lão thấy mình có lỗi với cha.
Đã nhiều lần lão rất nhớ cha lão, nhưng lão không dám tìm đến gặp ông. Lão nhớ! Lão đau! Có nỗi đau nào bằng nỗi đau này? Lâu dần nó đã trở thành một cơn đau triền miên, dai dẳng trong tâm hồn lão. Giữa căn nhà trống trải, lão thấy mình cô độc.
Và cứ đến thời điểm nửa đêm về sáng, người trong làng thường hay nghe thấy tiếng đàn bầu vọng ra từ ngôi nhà cổ, từng cung oán cung thương ão não, day dứt. Tiếng như âm ỉ nỗi đau bất lực trước sự nghiệt ngã của nghề nghiệp. Tiếng như quặn thắt, xót xa cho kiếp người. Day dứt. Và mong manh.
ĐOÀN TRỌNG HẢI

