Triển lãm mỹ thuật “Khoảng trời riêng”: Sự đa thanh của ký ức, nơi chốn và chất liệu

(VNGL – Mỹ thuật). Càng đi lâu với nghệ thuật, ta càng thấy mỗi người vẽ thật ra chỉ đang tìm cách giữ lại một phần đời sống của mình. Đó có thể là một miền quê, một gương mặt, một ký ức tuổi thơ, đất đỏ cao nguyên, một đóa hoa, một giấc mơ, hay một nỗi lặng không dễ gọi tên. Khi đi vào hội họa, những phần đời sống ấy không còn là kỷ niệm riêng lẻ. Chúng trở thành hình, thành màu, thành bề mặt, thành nhịp điệu thị giác. Triển lãm mỹ thuật “Khoảng trời riêng” là cuộc gặp của những chuyển hóa như vậy.

Triển lãm nhóm “Khoảng trời riêng” tại Gallery 3B quy tụ bảy họa sĩ: Đỗ Đình Miền, Nguyễn Đình Hồ, Nguyên Bút, Nguyễn Thị Tú Quyên, Phan Thị Thúy Phượng, Lê Nguyễn Thảo My và Lê Thị Thanh. Mỗi người đến với nghệ thuật từ một hoàn cảnh, một trải nghiệm, một nhịp sống riêng. Nhưng khi đặt cạnh nhau, họ cùng cho thấy một nhu cầu rất người: giữ lại phần sâu kín của mình bằng hội họa. Có người trở về với phong cảnh quê, có người đi vào tuổi thơ, có người lần theo âm sắc cao nguyên, có người tìm đến vẻ đẹp nữ tính, tình yêu, mộng tưởng và những tự sự lặng thầm.

Điểm đáng chú ý của triển lãm không nằm ở sự đồng dạng, mà ở tính đa thanh. Bảy họa sĩ không cùng một giọng nói tạo hình. Họ khác nhau về đề tài, chất liệu, cách tổ chức hình ảnh và nhịp cảm xúc. Chính sự khác nhau ấy làm nên cấu trúc chung của triển lãm: một cuộc đối thoại giữa ký ức cá nhân, nơi chốn sống và chất liệu biểu đạt.

Trong triển lãm này, sơn mài là một mạch chất liệu nổi bật, nhưng không khép các tác giả vào một lối biểu đạt duy nhất. Bên cạnh sơn mài còn có acrylic, sơn dầu, chất liệu tổng hợp. Sự đan xen ấy làm cho “Khoảng trời riêng” không chỉ là cuộc gặp của những cá tính sáng tạo, mà còn là cuộc gặp của nhiều cách xử lý bề mặt. Có người đi bằng lớp vóc, sắc son, ánh then và độ sâu của mài phủ. Có người chọn acrylic để giữ sự tươi sáng, trực tiếp. Có người tìm đến sơn dầu cho những vùng mộng tưởng và suy tư nội tâm. Có người dùng chất liệu tổng hợp để mở rộng biên độ biểu đạt của ký ức.

Ở Đỗ Đình Miền, người xem gặp một miền Trung nhiều nắng, nhiều gió, nhiều rơm rạ và sắc đất. Những tác phẩm như Nắng miền Trung, Mùa vàng, Du xuân 2, Quỳnh, Sen… cho thấy anh không chỉ vẽ phong cảnh hay hoa lá. Anh tổ chức lại ký ức quê nhà bằng ngôn ngữ sơn mài: mảng màu chắc, sắc độ trầm, đường nét tiết chế và một cảm giác thời gian đã lắng xuống trong bề mặt.

Tác phẩm Nắng miền Trung 1. Tác giả: Đỗ Đình Miền. Chất liệu: Sơn mài. Kích thước: 45 x 75cm. Năm sáng tác: 2017

Trong tranh Đỗ Đình Miền, nắng không còn là ánh sáng bên ngoài, mà thành một thứ nhiệt bên trong. Những ụ rơm, dãy núi, cánh đồng, mái nhà, hoa sen, hoa quỳnh… đi qua sơn mài nên có độ trầm, độ xước, độ cũ. Cảnh vật trong tranh anh không mới theo nghĩa lấp lánh. Nó có tuổi. Nó giống như một mảnh quê đã ở lâu trong trí nhớ, được mài lên từng chút trên mặt vóc. Có khi chỉ là một ụ rơm dưới nền đỏ, nhưng nhìn kỹ lại thấy trong đó cả mùa khô, cả gió, cả một đời sống nông thôn đã qua nhiều nắng.

Nguyễn Đình Hồ đem đến một nhịp khác. Anh vẽ Tây Nguyên, miền Tây đất biển, góc quê, hàng rào, dòng nước, bóng cây, mái nhà, cánh đồng. Loạt: Một thoáng Tây Nguyên, Đất biển, Góc quê… không ồn ào chi tiết. Anh thường đặt mảng màu chừng mực, giữ khoảng trống, để phong cảnh có chỗ thở. Ở đây, phong cảnh không phải là đối tượng để mô tả đầy đủ, mà là một cấu trúc cảm xúc được rút gọn.

Tác phẩm Góc quê. Tác giả Nguyễn Đình Hồ. Chất liệu: Sơn mài. Kích thước: 80 x 110cm. Năm sáng tác: 2026

Cái hay ở Nguyễn Đình Hồ là anh không cố tả cho đầy. Những con đường, bờ rào, bóng cây, mặt nước trong tranh có vẻ gần gũi, nhưng càng nhìn càng thấy xa. Đó không còn là một địa danh cụ thể. Đó là nơi chốn đã được nội tâm hóa. Người xem có thể nhận ra Tây Nguyên, nhận ra miền Tây đất biển, nhưng cũng có thể nhận ra một làng quê nào đó trong chính mình. Phong cảnh khi ấy không còn là cảnh vật đơn thuần, mà là phần vang âm của đời sống.

Nguyễn Thị Tú Quyên bước vào triển lãm bằng mạch “Ký ức tuổi thơ”. Đây là một mạch dễ chạm vào người xem, bởi ai cũng từng có một tuổi thơ để nhớ. Loạt tranh của chị gợi lại những trò chơi dân gian, những dáng trẻ nhỏ, những buổi chiều, những khoảng sân, những ngày đời sống còn chậm và niềm vui chưa bị chia nhỏ bởi màn hình.

Tác phẩm Ký ức tuổi thơ 7. Tác giả Nguyễn Thị Tú Quyên. Chất liệu: Sơn mài. Kích thước: 60 x 80cm. Năm sáng tác: 2026

Tú Quyên không kể tuổi thơ như một minh họa hoài cổ. Chị dùng sơn mài, và ở một số tác phẩm có cả chất liệu tổng hợp, để làm cho ký ức có độ sâu, độ óng, độ xa. Các hình ảnh trò chơi, dáng trẻ, khoảng sân, nhịp chuyển động được đưa vào tranh như những mảnh ký ức thị giác. Tuổi thơ trong tranh chị vừa gần vừa khuất. Gần vì đó là những trò chơi, những dáng điệu ta từng biết. Khuất vì thời ấy đã qua rồi. Người lớn đứng trước tranh có thể gặp lại một phần mình từng để quên. Trẻ nhỏ hôm nay, nếu nhìn những bức tranh ấy, có thể hiểu rằng đã có một thời niềm vui đến từ sân đất, bạn bè, tiếng cười và một buổi chiều đủ rộng.

Một mạch đáng chú ý trong triển lãm là bốn nữ họa sĩ đang sinh sống, làm việc và sinh hoạt trong Chi hội Mỹ thuật Gia Lai: Nguyên Bút, Phan Thị Thúy Phượng, Lê Nguyễn Thảo My và Lê Thị Thanh. Ở họ, Gia Lai không chỉ là nơi chốn. Nó thấm vào tranh như một khí hậu tinh thần: đất đỏ, gió cao nguyên, tiếng chiêng, hoa dã quỳ, những buổi chiều rộng, những khoảng lặng xa trung tâm, và cả sự bền bỉ của người phụ nữ âm thầm đi với nghệ thuật trong đời sống thường ngày.

Bốn người không giống nhau. Nguyên Bút nghiêng về nét vẽ bản năng, những gương mặt nữ giới, hoa và các khoảng lặng. Phan Thị Thúy Phượng đi gần hơn với đất đỏ, tiếng chiêng, Pleiku, với tình yêu trực tiếp dành cho mảnh đất đã sinh ra và nuôi dưỡng mình. Lê Nguyễn Thảo My giữ lại vẻ hồn nhiên, tình yêu, thiếu nữ, hoa dã quỳ và những điều giản dị. Lê Thị Thanh lại đi vào phía đêm, phía mộng, phía tự sự nội tâm. Đặt cạnh nhau, họ tạo nên một dòng nữ tính riêng: không yếu mềm, không trang trí, mà lặng lẽ, bền bỉ, giàu trực cảm và có sức chịu đựng.

Nguyên Bút mở ra một thế giới nghiêng về dáng người, gương mặt, hoa, cửa sổ, ký ức Hà Nội, những khoảng lặng và thì thầm cao nguyên. Ở chị, hình thể có khi lệch, nét có khi thô, khuôn mặt có khi giản lược gần như ký hiệu. Nhưng chính những điều ấy lại làm nên sức sống của tranh. Đó là kiểu tạo hình không đặt nặng sự chuẩn xác giải phẫu hay sự trau chuốt bề mặt, mà chú trọng đến nhịp nét, cảm giác và trạng thái tinh thần của hình tượng.

Tác phẩm Ký ức Hà Nội. Tác giả Nguyên Bút. Chất liệu: Sơn mài. Kích thước: 80 x 120cm. Năm sáng tác: 2026

Tranh Nguyên Bút không đi tìm vẻ đẹp quá hoàn chỉnh. Chị để cho nét vẽ giữ lại sự bất chợt của cảm xúc. Một ô cửa đỏ, một dáng ngồi, một cánh hoa, một khuôn mặt thiếu nữ hiện ra như những mảnh ký ức được ghép lại. Có cái vui, có cái buồn, có cái cô đơn, có cái như vừa bước ra từ một giấc mơ. Tranh chị có duyên ở chỗ không cố làm cho hoàn hảo. Nó giữ lại một độ thật. Mà trong nghệ thuật, đôi khi cái thật quan trọng hơn cái khéo.

Ở Phan Thị Thúy Phượng, cao nguyên hiện ra trực diện hơn cả. Chị sinh ra ở Pleiku, gắn bó với Pleiku nhiều năm, và trong tranh chị, mảnh đất ấy không phải là đề tài bên ngoài. Nó là nơi đã nuôi dưỡng cái nhìn. Những tác phẩm như: Thanh âm miền đất đỏ, Nhịp chiêng, Kon Klor – tháng Ba mùa nhớ, Rực rỡ Tây Nguyên, Chiều về, Chiều ven hồ… cho thấy chị nhìn cao nguyên bằng tình yêu của người trong cuộc.

Tác phẩm Rực rỡ Tây Nguyên. Tác giả Phan Thị Thúy Phượng. Chất liệu: Sơn mài. Kích thước: 60 x 120cm. Năm sáng tác: 2026

Ở tranh Thúy Phượng, Tây Nguyên có âm thanh. Có tiếng chiêng. Có sắc đất đỏ. Có dáng người, cầu treo, hồ nước, tháng Ba, những chiều rực lên rồi lắng xuống. Chị không cố làm cao nguyên thành biểu tượng lớn. Chị giữ nó bằng những mảng màu, những nhịp điệu, những dáng hình gần với ký ức cộng đồng. Ở đó, hình ảnh không chỉ để nhìn, mà còn gợi nghe, gợi nhớ, gợi cảm giác về một vùng đất. Cái thật trong tranh chị nằm ở tình yêu dành cho nơi chốn. Một tình yêu không cần nói quá, nhưng có sức neo người xem lại.

Lê Nguyễn Thảo My đem đến một khoảng trời mềm hơn, nhiều tình cảm đời thường. Những tác phẩm như: Yêu, Điều giản dị, Tỏ tình mùa xuân, Sắc xuân, Hồn nhiên, Sắc hoa dã quỳ, Nụ hôn bất ngờ, Tình Mèo, Thiếu nữ… cho thấy chị quan tâm đến niềm vui sống, tình yêu, vẻ đẹp nữ giới và những khoảnh khắc nhỏ quanh mình.

Tác phẩm Nụ hôn bất ngờ. Tác giả Lê Nguyễn Thảo My. Chất liệu: Sơn mài. Kích thước: 60 x 80cm. Năm sáng tác: 2026

Tranh Thảo My không giấu sự dịu dàng. Nhưng dịu dàng không có nghĩa là nông. Trong những hình ảnh thiếu nữ, hoa, tình yêu, con mèo, mùa xuân, ta thấy một nhu cầu giữ lại vẻ trong trẻo của đời sống. Những điều ấy có thể nhỏ, nhưng con người nhiều khi được nâng đỡ bởi chính những điều nhỏ. Về mặt tạo hình, chị thiên về sắc màu sáng, hình ảnh gần gũi, bố cục giàu tính kể và một nhịp điệu thị giác nhẹ nhàng. Hội họa của chị không lên gân, không cố nói những điều lớn lao, mà lặng lẽ đứng về phía yêu thương. Và chính sự tự nhiên ấy làm nên giọng riêng.

Lê Thị Thanh có một thế giới trầm hơn. Những tác phẩm như: Đối ngẫu, Như mộng, Những ánh sao đêm, Tìm về, Tự sự, Tự tại, Tan vào giấc mơ, Mộng trưa hè, Hoàng hôn về, Tựa vào đêm… cho thấy chị đi nhiều vào phía mơ, phía lặng, phía những câu hỏi chưa cần trả lời.

Tác phẩm Tự tại. Tác giả Lê Thị Thanh. Chất liệu: Sơn mài. Kích thước: 83 x 168cm. Năm sáng tác: 2026

Ở Lê Thị Thanh, tên tranh đã gợi một trạng thái tinh thần. Chị không chỉ vẽ cảnh hay hình. Chị vẽ một tâm thế. Có khi đó là một vùng tối cần đi qua. Có khi là một giấc mơ còn vương lại. Có khi là nỗ lực tìm bình yên sau những xao động bên ngoài. Tranh chị có cả sơn mài và sơn dầu, nhưng điều quan trọng không nằm ở việc chọn chất liệu nào, mà ở khả năng dùng chất liệu để mở ra không gian nội cảm. Màu, hình, ánh sáng và khoảng tối trong tranh chị cùng hướng đến một thế giới tinh thần nhiều lắng đọng.

Nhìn tổng thể, “Khoảng trời riêng” không cần tạo ra một tiếng nói đồng đều. Giá trị của triển lãm nằm ở chỗ mỗi người giữ được phần riêng của mình và chuyển phần riêng ấy thành ngôn ngữ tạo hình. Đỗ Đình Miền giữ nắng gió và ký ức quê qua sơn mài. Nguyễn Đình Hồ giữ những phong cảnh lặng của Tây Nguyên và miền Tây đất biển. Nguyễn Thị Tú Quyên giữ tuổi thơ như một ký ức văn hóa. Nguyên Bút giữ những gương mặt, hoa và khoảng lặng nữ giới. Phan Thị Thúy Phượng giữ tiếng chiêng, đất đỏ và tình yêu Pleiku. Lê Nguyễn Thảo My giữ vẻ hồn nhiên, tình yêu và sắc hoa cao nguyên. Lê Thị Thanh giữ những giấc mơ, đêm và tự sự.

Sự đa thanh của triển lãm nằm ở đó: mỗi người một ký ức, một nơi chốn, một cách đi với chất liệu. Những tiếng nói ấy không hòa tan vào nhau, cũng không đứng tách rời nhau. Chúng cùng hiện diện, cùng soi chiếu, cùng làm rõ cho người xem thấy rằng hội họa không chỉ là chuyện của hình ảnh, mà còn là cách con người lưu giữ kinh nghiệm sống của mình trong hình ảnh.

Những khoảng trời ấy không nhập lại thành một bầu trời phẳng. Chúng cứ khác nhau, và chính sự khác nhau ấy làm cho cuộc gặp này có ý nghĩa. Trong một triển lãm nhóm, điều đáng quý không phải là sự đồng dạng, mà là khả năng các cá tính cùng hiện diện, cùng mở ra nhiều lối vào đời sống.

Nghệ thuật, sau cùng, có lẽ cần sự chân thành trước khi cần sự lớn lao. Một bức tranh đủ tốt là bức tranh khiến người xem dừng lại lâu hơn một chút, nhớ ra điều gì đó của mình, hoặc lặng đi trước một điều chưa kịp gọi tên.

“Khoảng trời riêng” vì thế không chỉ là tên một triển lãm. Nó là lời nhắc rằng mỗi nghệ sĩ cần có một vùng trời để thở, để nhớ, để khác đi, để được là mình. Khi những vùng trời ấy cùng mở ra, chúng không chia nhỏ bầu trời. Chúng làm cho bầu trời rộng hơn.

Thông tin triển lãm: Triển lãm mỹ thuật “Khoảng trời riêng” được tổ chức tại Gallery 3B, 38/61 Nguyễn Văn Trỗi, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh; khai mạc lúc 18:00, thứ Bảy, ngày 04.7.2026 và kéo dài đến ngày 10.7.2026

Nhà điêu khắc LÊ TRỌNG NGHĨA

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN