(VNGL – Đất và người Gia Lai). Tháng 6.2026, UBND tỉnh Gia Lai tổ chức buổi làm việc về công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đô thị Quy Nhơn mở rộng trên cơ sở các phường, xã thuộc khu vực Quy Nhơn (trước đây thuộc TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) và một số địa phương lân cận. Theo đó, đô thị Quy Nhơn mở rộng được xác định là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh Gia Lai và khu vực Duyên hải Nam Trung bộ – Tây Nguyên.
Thử điểm lại những chặng đường trăm năm của Quy Nhơn để tin rằng đây là đô thị tiềm tàng nội lực sung mãn.
1.
Từ năm 1602, địa danh phủ Qui Nhơn ra đời thay thế tên phủ Hoài Nhơn được thành lập năm 1471. Ngày 20.10.1898, Cơ Mật Viện của triều đình Huế đề nghị thành lập thị xã Qui Nhơn. Ngày 12.7.1899, vua Thành Thái ra đạo dụ công nhận chính thức. Ngày 30.8.1899, Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer ra Quyết định chuẩn y.
Theo Nghị định ngày 14.3.1900, thị xã Qui Nhơn bao gồm đất của hai làng Chánh Thành và Cẩm Thượng, thuộc huyện Tuy Phước có diện tích 7km2. Ngày 30.4.1930, Toàn quyền Đông Dương Pasquier ra Nghị định nâng cấp thị xã Qui Nhơn lên thành phố, một cơ chế quản lý mới ra đời, đứng đầu là viên Đốc lý do Công sứ Bình Định kiêm nhiệm. Ngày 01.01.1931, thành phố Qui Nhơn bao gồm 5 khu phố: khu 1 và khu 2 thuộc làng Chánh Thành, khu 3 và khu 4 thuộc làng Cẩm Thượng, khu 5 ở phía Tây thuộc đất của làng Hưng Thạnh(1).
Làng cổ lâu đời của trung tâm thành phố Qui Nhơn, từ thế kỷ XVIII về trước là thôn Vĩnh Khánh. Không có tư liệu nào làm sáng tỏ năm ra đời và quá trình phát triển của thôn Vĩnh Khánh, nhưng di vật cổ xưa nhất của thôn Vĩnh Khánh là chiếc khánh của chùa Long Khánh làm năm Kỷ Mùi (1679 hoặc 1739. Theo Lược sử tổ đình Long Khánh, 1976, Kỷ Mùi là năm 1739)(2).
Tên thôn Vĩnh Khánh được nhắc vào thời điểm muộn nhất vào năm 1837 trong tấm bảng gỗ ghi công đức của Đền Quan Thánh (Chùa Ông Nhiêu) số 251 Bạch Đằng, phường Quy Nhơn (phường Trần Hưng Đạo cũ): “Ấp Chánh Lộc, thôn Vĩnh Khánh, tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn”(3).
Nội dung tấm bảng ghi công đức những người đóng góp xây dựng Đền Quan Thánh đã cho chúng ta biết: tại thời điểm năm 1837, ở Qui Nhơn đã hình thành đô thị thương nghiệp với nhiều hiệu buôn, nhiều chủ thuyền. Tất cả các luồng buôn đều quy tụ về đây đã tập trung một đội ngũ thương nhân đông đảo, phố chợ ra đời, đô thị được xác lập bởi chức danh Phố trưởng, viên thị trưởng lúc bấy giờ là Trần Đức Hiệp(4). Phố trưởng là chức danh của một cơ chế quản lý đô thị dưới triều Nguyễn lần đầu tiên tìm thấy ở Qui Nhơn. Như vậy, vào nửa đầu thế kỷ XIX, Qui Nhơn đã xác lập đô thị với một cơ chế quản lý đặc biệt của triều Nguyễn thiết lập. Chế độ tự trị trong quản lý Nhà nước, xã hội và kinh doanh là nét nổi bật của khu đô thị này. Thị trưởng do người Việt đảm nhiệm trong bộ máy điều hành của hệ thống chính quyền địa phương. Các văn kiện về việc thành lập các quy chế hoạt động của đô thị Qui Nhơn năm 1898, 1899… là sự công nhận về mặt pháp lý.
Về thời điểm xuất hiện của tên gọi Qui Nhơn để chỉ khu đô thị này có nhiều ý kiến khác nhau: Đỗ Quyên trong Đôi điều về lịch sử thành phố Quy Nhơn, ghi khoảng năm 1882 – 1883; Quách Tấn trong Nước non Bình Định, ghi năm 1885; Phan Khoan trong sách Việt Nam Pháp thuộc sử, ghi năm 1886; Trần Đình Thái trong Ai có về Qui Nhơn, ghi năm 1887; Nguyễn Lý trong Quy Nhơn xưa, ghi năm 1887; Côn Giang trong Nhân đọc bài 390 năm phủ thành Quy Nhơn, ghi năm 1898…
Một số văn bản đương thời có địa danh Qui Nhơn xuất hiện: Sớm nhất là thư của ông Vernéville – Lãnh sự quán Pháp ở Qui Nhơn viết năm 1881 về thủ công nghiệp dệt nhiễu ở nam đã có tên Qui Nhơn(5). Năm 1883, Barthe (L) viết cuốn Quinhon et la province de Binhdinh(6). Năm 1893, Jean Brien viết cuốn De Quinhon en Cochinchine(7). Như vậy, có khả năng trước năm 1881, có thể từ năm 1876 lúc cơ quan Lãnh sự quán Pháp đóng ở Qui Nhơn để thi hành Hiệp ước năm 1874 thì tên Qui Nhơn đã xuất hiện trong các văn bản của người Pháp và muộn nhất là các năm 1881, 1883, 1893. Còn về phía Nam triều, các văn bản vẫn dùng Thị Nại đến khi có tờ trình Viện Cơ mật ngày 20.10.1998 là chính thức tên Qui Nhơn xuất hiện trong văn bản triều đình như là một đơn vị hành chính.
2.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 3.9.1945, thành phố Qui Nhơn được tổ chức theo quy chế một thị xã lấy tên thị xã Nguyễn Huệ. Tháng 6.1950, xã Phước Tấn của huyện Tuy Phước gồm các thôn: Xuân Quang, Xuân Vân, Qui Hòa được sáp nhập vào thị xã Qui Nhơn và Qui Nhơn hưởng quy chế một xã đặc biệt trực thuộc tỉnh Bình Định. Năm 1951, lại phục hồi quy chế thị xã cho Qui Nhơn và thực hiện quy chế này cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp(8).
Trong giai đoạn 1954 – 1975, lúc đầu Qui Nhơn hưởng cơ chế thị xã gồm có 5 khu: 1, 2, 3, 4 và 5. Nghị định số 594, Bộ Nội vụ ngày 02.10.1961 của chế độ Sài Gòn cho sáp nhập các thôn Xuân Quang, Xuân Vân, Qui Hòa vào thị xã Qui Nhơn(9). Năm 1970, thị xã Qui Nhơn được chia làm hai quận: Nhơn Bình và Nhơn Định. Lúc bấy giờ, các xã Phước Hậu, Phước Lý, Phước Hải của huyện Tuy Phước được sáp nhập vào thị xã Qui Nhơn(10).
Sau năm 1975, hợp nhất hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình, Quy Nhơn là thị xã tỉnh lỵ (Qui được viết thành Quy trong văn bản hành chính từ đây). Năm 1982, xã Nhơn Thạnh (Phước Hậu cũ) tách làm hai xã Nhơn Bình và Nhơn Phú.
3.
Tháng 7.1986, Hội đồng Bộ trưởng quyết định mở rộng nâng cấp thị xã, thành lập thành phố Quy Nhơn – thành phố loại III; xã Phước Thạnh thuộc huyện Tuy Phước được sáp nhập vào thành phố đổi tên thành xã Nhơn Thạnh. Thành phố lúc đó gồm 14 phường và 4 xã, có diện tích 21.200 ha và dân số 174.076 người(11). Ngày 9.7.1987, giải thể xã Nhơn Thạnh thành lập hai phường Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu(12).

Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết 558 công nhận Quy Nhơn là đô thị loại II. Ngày 4 tháng 9 năm 1998, thành lập phường Lý Thường Kiệt từ một phần diện tích tự nhiên và dân số của các phường Ngô Mây, Lê Hồng Phong và Trần Phú.
Ngày 25 tháng 01 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 159/QĐ-TTg, chính thức công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Định. Sự kiện này là một dấu mốc quan trọng, ghi nhận những bước tiến vượt bậc của thành phố Quy Nhơn về kinh tế, văn hóa và hạ tầng đô thị. Việc nâng cấp thành phố Quy Nhơn lên đô thị loại I sẽ tạo tiền đề đầu tư xây dựng đô thị phát triển đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đô thị, xây dựng và phát triển thành phố Quy Nhơn thành đô thị hiện đại, bền vững, có bản sắc riêng nhằm thực hiện tốt vai trò đô thị động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Các phường nội thành gồm: Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Hải Cảng, Trần Phú, Đống Đa, Ngô Mây, Quang Trung, Nguyễn Văn Cừ. Ngày trước, các phường trên thuộc đất các làng: Chánh Thành, Cẩm Thượng, Hưng Thạnh và Xuân Quang trong thế kỷ XIX.
***
Ngày 01.7.2025, hai tỉnh Gia Lai và Bình Định được sáp nhập lại thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai, trung tâm hành chính – chính trị đặt tại thành phố Quy Nhơn trước đây. Dõi theo tiến trình lịch sử, sẽ thấy Quy Nhơn luôn phát triển theo chiều hướng ngày càng mở rộng, và Quy Nhơn sẽ là động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh Gia Lai cũng như khu vực Duyên hải Nam Trung bộ – Tây Nguyên.
NGUYỄN THANH QUANG
CHÚ THÍCH
1. Ủy ban Nhân dân thành phố Quy Nhơn. Lịch sử thành phố Quy Nhơn. Nxb Thuận Hóa, 1998, tr. 96.
2. Lược sử tổ đình Long Khánh, 1976, tr. 3. Chiếc khánh hiện đang lưu giữ tại chùa. Theo tài liệu Lược sử tổ đình Long Khánh, 1976, còn có tên ấp Vĩnh Bình, thôn Vĩnh Ly nhưng chưa có tài liệu đối chứng.
3. Bảng ghi công đức của Đền Quan Thánh (Chùa Ông Nhiêu) hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh.
4. Ủy ban Nhân dân thành phố Quy Nhơn. Lịch sử thành phố Quy Nhơn. Nxb Thuận Hóa, 1998, tr. 126. “Nước Đại Nam. Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ lãnh binh Bình Phú Tổng đốc họ Võ, cùng Phố trưởng Trần Đức Hiệp, Cai trưởng Ngô Văn Phóng ở ấp Chánh Lộc, thôn Vĩnh Khánh, tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn…”.
5. Tài liệu Thư viện Quốc gia, ký hiệu M.6484.
6. Revue Géographie, Paris, 1883.
7. Imprimerie. F. Schneider, Hanoi.
8. Ủy ban Nhân dân thành phố Quy Nhơn. Lịch sử thành phố Quy Nhơn. Nxb Thuận Hóa, 1998, tr. 97.
9. Ủy ban Nhân dân thành phố Quy Nhơn. Lịch sử thành phố Quy Nhơn. Nxb Thuận Hóa, 1998, tr. 108.
10. Theo sắc lệnh số 113/SL/NV ngày 30.9.1970 của chính quyền Sài Gòn.
11. Quyết định số 81 của Hội đồng Bộ trưởng.
12. Quyết định số 52 của Hội đồng Bộ trưởng.



