(VNGL – Chân dung văn nghệ sĩ). Xuất thân từ vùng đất Tây Sơn tam kiệt (huyện Tây Sơn – Bình Định cũ), Trần Phong rời quê hương tìm về lập nghiệp nơi Bắc Tây Nguyên – vùng đất bazan sau ngày giải phóng còn nhiều điều mới lạ, phù hợp với những ai mạo hiểm, muốn thử sức mình. Từ một chàng trai xứ Nẫu theo ngành học không liên quan đến văn hóa – xã hội nhưng lại đam mê với nghề nhiếp ảnh. Công tác trong ngành Văn hóa tỉnh Gia Lai – Kon Tum từ sau ngày thống nhất đất nước. Ban đầu với chiếc máy cơ ngày ấy, Trần Phong đã âm thầm theo các đoàn công tác về buôn làng người Jrai, Bahnar, Sê Đăng… để nghiên cứu, tìm hiểu về vùng đất giàu truyền thống của dân tộc bản địa. Mặc dù không có chuyên môn về lĩnh vực văn hóa, dân tộc học nhưng trong tâm thức mách bảo, anh đã chọn cho mình một lối đi riêng trên vùng đất mới, đúng với sở thích và năng khiếu bẩm sinh. Với bản tính chịu khó, cẩn trọng trong công việc, anh không bỏ lỡ những chuyến điền dã cùng các nhà nghiên cứu văn hóa lão luyện ở các buôn làng Tây Nguyên còn lưu giữ các phong tục tập quán nguyên sơ. Lúc bấy giờ, ở trong nước, các phương tiện kỹ thuật ghi chép hình ảnh còn thô sơ. Cùng chiếc máy ảnh cơ nhưng rất thiếu film đen trắng và phòng lab rửa hình, nhưng anh rất cần mẫn, tự học hỏi làm chủ được kỹ thuật, tiết kiệm từng thước film và lưu trữ một cách an toàn, có khoa học trong điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt.
Ban đầu, những bức ảnh anh ghi lại khá chi tiết với góc chụp bắt mắt, có hồn từ các lễ hội cồng chiêng, kiến trúc nhà mồ, điêu khắc gỗ… ở buôn làng một cách chân thực, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu khoa học, lưu trữ và quảng bá hình ảnh, được các nhà nghiên cứu văn hóa bấy giờ đánh giá cao.
Giáo sư Nguyễn Từ Chi (Nhà Dân tộc học) trong chuyến điền dã cùng Trần Phong vào thập niên những năm 80 thế kỷ trước, ông đã tâm sự: “Cảm giác đầu tiên, mà cũng là cảm xúc tổng hợp qua cả chuyến đi, nhất là đối với một người như tôi, trước đây chưa hề gặp “nhà mả” các dân tộc Thượng, có thể nói tóm vào một chữ: Đẹp, Đẹp viết hoa. Đẹp lạ! Cái đẹp trong mối tương quan vừa đối lập vừa hài hòa giữa nghệ thuật của con người và thiên nhiên hoang dã bao quanh. Chỉ cần xem vài ảnh của bộ sưu tập này, trong đó nhà mả, dù Bahnar hay Jrai được người chụp ảnh ghi lại, trong thế tạm gọi là hoàn chỉnh của nó, tôi muốn nói không thiếu chi tiết lớn nào, là đã có thể bước đầu mường tượng ra cái Đẹp ấy…”.
Gần hai thập niên cầm máy cùng với hàng trăm chuyến xâm nhập thực tế từ các vùng sâu vùng xa ở Bắc Tây Nguyên, Trần Phong đã ghi lại hàng nghìn bức ảnh tư liệu về đất nước, con người các dân tộc bản địa với niềm đam mê cháy bỏng văn hóa, nghệ thuật truyền thống đặc sắc của Tây Nguyên. Năm 1995, được sự đỡ đầu của Sở Văn hóa Thông tin – Thể thao Gia Lai (cũ) anh đã cho trình làng tập sách ảnh đầu tiên Điêu khắc gỗ dân gian Jrai – Bahnar với gần 100 bức ảnh trắng đen chọn lọc, cùng với lời giới thiệu của của Nhà Nghiên cứu văn hóa Ngô Văn Doanh: “…Nhìn vào tập sách ảnh này, bạn đọc không chỉ được thấy những tác phẩm điêu khắc độc đáo mà còn có thể hình dung ra được thế nào là nền tượng gỗ đặc sắc của Tây Nguyên. Chắc chắn mỗi tấm ảnh trong tuyển tập sẽ là những tư liệu một đi không trở lại đối với những ai yêu thích và muốn học hỏi ở tượng gỗ dân gian Tây Nguyên. Những gì mà Trần Phong ghi lại được, dù chỉ cách đây có một năm thôi, hoặc đã hư hỏng, hoặc không còn nữa…”. Lúc bấy giờ, bên cạnh các công trình nghiên cứu, xuất bản về văn hóa truyền thống, dân tộc học các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên được trình làng của các nhà nghiên cứu văn hóa lừng danh như: Tô Ngọc Thanh, Ngô Văn Doanh, Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh… thì nổi lên trong giới nhiếp ảnh chuyên tâm đến văn hóa các dân tộc bản địa, lưu giữ hình ảnh có hệ thống bao quát được các mảng lễ hội, nghệ thuật truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên – đó là Nghệ sĩ nhiếp ảnh (NSNA) Trần Phong. Có thể xem anh như một người đặt nền móng và xây dựng ngành nhiếp ảnh ở Bắc Tây Nguyên từ sau ngày giải phóng với những đóng góp rất ấn tượng đáng lưu danh.
Thành tựu đáng chú ý là hơn 40 năm cống hiến cho ngành nhiếp ảnh ở Tây Nguyên, anh đã để lại 3 ấn phẩm ảnh có giá trị với hơn 500 bức ảnh về điêu khắc, lễ hội và tượng gỗ Tây Nguyên kèm với chú thích rõ ràng, chính xác bằng hai ngôn ngữ (Việt – Anh), có sách chú thích đến 3 ngôn ngữ (Việt – Anh – Pháp) như một “Bảo tàng ảnh” văn hóa các dân tộc bản địa sống động. Và hiện nay, anh đang ấp ủ chuẩn bị xuất bản một ấn phẩm mới được chọn lọc trong bộ sưu tập ảnh về chủ đề con người và sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc Tây Nguyên. Các thư viện và bảo tàng tổng hợp ở địa phương cũng như quốc gia đều có lưu trữ các ấn phẩm giá trị này phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu.

Ở lĩnh vực nhiếp ảnh trong nước và quốc tế, Trần Phong đã có 2 triển lãm ảnh tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Gia Lai (cũ) được sự quan tâm của giới nghệ sĩ nhiếp ảnh và công chúng; anh cũng đã gửi tác phẩm ảnh dự triển lãm ở 60 quốc gia trên thế giới, và thành quả đồ sộ thu về trên 1.350 giải thưởng nhiếp ảnh quốc gia và quốc tế các loại, trong đó có trên 210 huy chương vàng, cúp vàng, giải nhất. Hiện nay, NSNA Trần Phong vẫn còn đang giữ chức vụ: Ủy viên Ban Thường vụ Hội kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam. Những năm qua, anh đã góp phần định hướng trong lĩnh vực nhiếp ảnh, tổ chức đào tạo và thẩm định, nâng cao chất lượng của hoạt động sáng tạo trong nghệ thuật nhiếp ảnh cả nước. Ở tầm vóc quốc tế, NSNA Trần Phong đã nhiều lần được bầu đảm nhận nhiệm vụ làm Giám khảo và Chủ tịch Hội đồng Giám khảo các cuộc thi ảnh quốc tế. Bên cạnh, với tài năng và sự cống hiến, anh là một trong số ít nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam vinh dự được phong các tước hiệu: GMPSA (Master of the Photographic Society of America); EFIAP/d3 (Excellence FIAP hạng Kim cương – Diamond 3 – tước hiệu Nghệ sĩ xuất sắc của FIAP cấp độ Kim cương hạng 3; E.VAPA/G – Nghệ sĩ nhiếp ảnh đặc biệt xuất sắc – Gold (Tước hiệu cao nhất của VAPA)…

Nói về phong cách nghệ thuật nhiếp ảnh của Trần Phong có gì đặc biệt? Và vì sao anh đạt được đỉnh cao trong lĩnh vực nghệ thuật nhiếp ảnh?
Tìm hiểu qua hàng trăm bức ảnh đen trắng cũng như ảnh màu – tác phẩm của Trần Phong đã công bố, chúng ta có thể nhận xét khái quát: Đẹp và hoàn mĩ; với bố cục chặt chẽ, có điểm nhấn rõ ràng và ánh sáng nổi bật… Nội dung ảnh vừa có tầm tư duy rộng nhưng giữ được hồn cốt, ý đồ tác giả vừa mang đậm chất văn hóa bản địa. Với những bức ảnh chân dung con người hay sinh hoạt đám đông, tập thể, tác giả bao giờ cũng tôn trọng sắc thái nhân vật với cảm xúc thật, chọn đúng thời cơ, góc độ để bấm máy, như tác phẩm “Thiếu nữ Bahnar – Young Bahnar girl” – 1986 (ảnh đen trắng), hay “Thiếu nữ Jrai dệt vải – Jrai girl weaving fabric” – 1989 (ảnh màu), và ảnh “Rượu cần ngày hội – Wine drunk out of a jar through pipes at the festival” – 1992 (ảnh màu)… Tác phẩm ảnh của Trần Phong không cầu kì về kỹ thuật, ít dàn dựng, đưa độc giả vào trạng thái cảm xúc thật. Do vậy, có thể kết luận, sự khác biệt và làm nên tên tuổi của NSNA Trần Phong là: Tác phẩm ảnh của anh vừa phù hợp với tiêu chí thẩm mĩ quốc tế vừa giàu tính nhân văn, lưu giữ được ký ức văn hóa bản địa đang có chiều hướng biến đổi nhanh trong cơn lốc thị trường và đô thị hóa hiện nay. Ở đây, đôi khi nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh đã vươn tầm đến “nghệ thuật salon quốc tế” từng đạt đến kỹ thuật hậu kỳ cao, tính cô đọng, độ tương phản mạnh nhưng lệch về “cái đẹp hình thức”, xa rời đời thực, thiếu chiều sâu văn hóa bản địa. Đối với NSNA Trần Phong hầu hết các tác phẩm trình làng của anh đều giữ được độ quân bình giữa tiêu chí thẩm mĩ quốc tế vừa đạt chiều sâu văn hóa bản địa, đậm chất tư liệu về nét đẹp văn hóa truyền thống Tây Nguyên. Mặc dù, sau khi về hưu (2017) đến nay, NSNA Trần Phong vẫn tiếp tục gắn bó với mảnh đất cao nguyên Pleiku yêu quý, nơi hun đúc và nuôi dưỡng tài năng của mình. Anh luôn duy trì phong độ làm việc với tình yêu nghề nghiệp một cách bền bỉ; hằng tuần vẫn dành thời gian về buôn làng, tìm đến các lễ hội thường niên, các di chỉ văn hóa truyền thống ở vùng sâu để kịp lưu giữ những “hạt ngọc” văn hóa bản địa còn sót lại giữa lúc không gian buôn làng truyền thống ngày một biến dạng. Đồng thời, anh vẫn tiếp tục đóng góp công sức, tài năng cho Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và các tổ chức nhiếp ảnh quốc tế.
BÙI QUANG VINH



