Ngựa ơi về đâu

(VNGL – Tản văn). Lâu rồi khi đọc bài thơ Đà Lạt một lần trăng của nhà thơ Nguyễn Duy tôi bị say không lý do với hai câu: Tiếng móng ngựa gõ ròn trên dốc vắng/ nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi. Phải chăng giữa ngàn chỉ dấu của cao nguyên, giữa biết bao thành phố dùng ngựa và xe ngựa thì tiếng móng ngựa trên cao nguyên chập chùng dốc, chập chùng thông va vào sương đêm đánh thức mọi giác quan trở mình để kịp rung lên khúc nhạc hoang sơ và phiêu lãng. Thanh âm của sự kiêu hãnh, sắc màu huyền ảnh, cảm giác liêu trai… tất cả quyện trong dáng ngựa trên đồi. Theo thời gian, những chú ngựa của phố núi đi đâu, về đâu theo những nếp gấp vội thời gian?

Người Đà Lạt xa lạ với từ thổ mộ hay xà ích. Chỉ là xe ngựa thân thương đồng hành cùng bác mã phu. Bóng ngựa in lên nền sương mà đi, tiếng lóc cóc ma mị trong ánh sáng đỏ lập lòe lúc ba, bốn giờ sáng. Chỉ có những bếp lửa cháy đượm mùi dầu thông phả vào không gian, hòa vào tiếng những chú chim xao xác phía đồi thông đồng hành cùng những bước chân ngựa. Buổi chiều tím lịm ngựa trở về phía núi, tiếng lục lạc rơi vào thung lũng làm chiều như sâu hơn. Nơi những ngôi nhà chìm giữa rừng thông, chỉ thấy thấp thoáng dáng cây hồng bệ vệ chín đỏ trong mùa đông lạnh căm. Nơi ấy, tiếng vó ngựa chạy qua mùa xuân dưới tán mai anh đào đẹp như bức tranh thủy mặc. Đường Đà Lạt những năm bảy mươi, tám mươi sao mà khúc khuỷu, sao mà chập chùng; những bước chân của ngựa rải đều làm mềm mại và uốn những khúc quanh thành một dải lụa phấp phới trong tiếng lục cục đều đặn xuống mặt đường. Thỉnh thoảng, dấu ấn ngựa vương lại những chiếc guốc sắt và những chiếc đinh rất đặc trưng trên mặt đường. Các bà mẹ có niềm tin rằng lượm những chiếc guốc đã chạy vạn dặm đường xa để dưới gối nằm đứa bé sẽ ngủ ngon. Sớm mai ngựa đưa người đi chợ, đưa học sinh đến lớp rộn ràng vui tươi như hòa cùng ban mai trên phố…

Vẻ đẹp phong trần và mơ mộng ấy hiện hữu trong mắt người chiêm ngưỡng. Còn những người nông dân ở các làng rau và hoa Vạn Thành, Thái Phiên, Xuân Trường, Xuân Thọ, Sở Lăng, cầu Đất… trong cái lạnh căm căm họ đánh cỗ xe bằng gỗ vào ngựa để chở la ghim ra chợ Hòa Bình. Nằm trong nhà nghe thanh âm trở giấc gõ vào sương tiếng guốc vọng từ xa biết cỗ xe đi qua chở món hàng gì. Ngựa chở hoa bước đi thong thả, dứt khoát tiếng gõ vào mặt đường đất nhẹ, đá chẻ vang trong veo. Rau củ thì nặng bước, ngựa đi chậm hơn, nhịp không đều, nặng nề. Thỉnh thoảng nghe tiếng thở phì phì của ngựa. Ngựa kéo sương mà đi. Dấu ngựa đi qua, âm thanh được trả về với tịch lặng. Những cỗ xe rẽ bóng tối, rẽ cái lạnh thấm vào da mà đi với ngọn đèn dầu treo phía trước hướng về phía chợ.

Tôi không rành thuật ngữ của người nuôi ngựa nhưng người bạn có bờm thì khôn lắm cứ như mật ngữ nghe tiếng “tặc, tặc, xùy… xùy, hay ò… ò…” là chúng tự biết cách đi nhanh đi chậm, hay dừng. Cứ thế ngựa đồng hành cùng đời sống nông dân, và hơn cả một phương tiện đi lại nó là một người bạn, một thành viên trong gia đình. Với mỗi cư dân thành phố “đứng trên triền dốc nhìn xuống đồi thông” ngựa là hình ảnh quen thuộc và thân thương đến độ nhìn cách xe ngựa đi biết người chủ đến từ khu vực nào. Những chú ngựa mang cỗ xe đến từ khu vực Lang Biang có gì đó hoang dã, phản ứng nhanh nhẹn, có thể hành trình đường dốc nhiều làm nên phản ứng của chúng. Ngựa đến từ khu vực Xuân Thọ, Thái Phiên hiền lắm, tuy không nhanh nhẹn nhưng kiểu chạy đều… Cứ thế hình ảnh từng đoàn xe ngựa lập lòe ánh sáng đèn dầu kéo nhau ra phố khi ban mai chưa kịp ló rạng và trở về trong chiều lạnh đã chạm vào hồn cốt của phố và ký ức của người.

Có một thời, những thanh âm của ngựa mỏng và rời rạc khi những chiếc xe lam ra đời rồi đến xe Daewoo chở hàng ra đời… Chúng xuất hiện để người làm nông thôi vất vả, những chú ngựa và cỗ xe quẩn quanh tìm cho mình một chỗ đứng. Sự nhàn nhã hòa với nỗi buồn cho đến khi có sự chuyển biến đời sống từ phương tiện lao động sang phương tiện du lịch. Hồ Than Thở, Thung lũng Tình Yêu, núi Lang Biang… trở thành nơi tụ tập đời sống mới của ngựa. Du khách ghé Đà Lạt muốn lưu giữ hình ảnh bên chú ngựa, muốn cưỡi ngựa. Đời sống ngựa lại được hồi sinh để phục vụ du lịch của thành phố. Những con ngựa giờ đây không chỉ thổi hồn cho thành phố du lịch mà góp phần tạo nên vẻ đẹp của một tiểu Paris trong lòng du khách. Có những giai đoạn dịch vụ du lịch cưỡi ngựa phát triển đến độ ai đến Đà Lạt cũng đều mang về cho mình một vài bức ảnh với ngựa. Ngựa là mẫu ảnh, quen thuộc như một mẫu số chung của Đà Lạt.

Giờ đây, thành phố đã bùng nổ hàng loạt dịch vụ du lịch hấp dẫn, những chiếc xe buýt, xe điện vòng quanh bờ hồ tiện hơn xe ngựa. Lâu lắm rồi, tiếng xe nghiến trên mặt đường, tiếng hí của ngựa trong màn đêm của rừng khuya tịch mịch trở nên hiếm hoi. Những thanh âm quen thuộc bỗng trở nên xa xôi rồi chìm hẳn giữa lòng đô thị rộn tiếng xe cộ. Con tôi khi đọc câu thơ “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” sẽ bình thản như vừa xếp một chiếc áo chật vào bao. Chỉ tôi chấp chới cùng câu hỏi những chú ngựa về đâu giữa dòng đô thị đang dần quên một thời vang bóng của ngựa. Tôi sợ một ngày mai nào đấy tôi phải mở Google hoặc Chat GPT để hỏi dáng hình của ngựa phi nước kiệu, phi nước đại, ngựa thung dung trên phố… đã từng sống động trong tuổi thơ mình. Chắc lúc ấy tôi buồn lắm và quay quắt lắm.

TRẦN THANH THỦY

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Dành dành trắng

Trăng lọt qua kẽ lá vẽ xuống nền gạch ẩm những hình thù loang lổ, méo mó. Ngoài khung cửa, một chiếc bóng nhỏ bé lướt qua. Trong màu áo trắng ngà loang loáng, thoạt nhìn Lam nhận ra bóng một cô bé…

Mùa hạ Tây Nguyên

Trong thơ anh có mùa hạ đỏ
Có dòng sông thơm vạt nắng vàng
Gió thổi ngày xanh thành cát bụi
Để một chiều mắt biếc đi hoang

Nhặt

Tôi ngồi nhặt nắng Giêng hai
Nhặt vần thơ lạc bên ngoài mái hiên
Ngày đi nhặt khắp mọi miền
Đêm về nhặt mọi ưu phiền nắng mưa

Mùa hạ

Hạnh phúc của mây là những ngày nắng cháy
hay những ngày mưa không thể phân biệt những ngày
áo cộc và giọt mồ hôi hồn nhiên khoái chí
lích chích cuối vườn con cào cào xanh