(VNGL – Truyện ngắn). Bến Giá của con sông trước nhà nằm phía lở. Tôi tò mò hỏi từ đâu có cái tên Giá thì không người già nào trong xóm trả lời được. Không phải nơi trồng giá đỗ. Càng chẳng phải nơi ở của những người đàn bà chồng chết hay không có chồng. Quê tôi, người ta gọi những người đàn bà vì bất cứ lý do gì mà không có chồng là “bà giá”. Con sông quê nhỏ nhắn nhưng bến Giá khá cheo leo. Nó có dốc dựng đứng, từ dưới sông thiếu nước bò lên, còn từ trên bờ phải bám chân cho kỹ chứ mất đà lộn cổ xuống sông như chơi. Sợ hơn, bên trái bên phải của bến đều là những mỏm đất mong manh, sẵn sàng rớt nguyên mảng xuống lòng sông bất cứ lúc nào. Chỗ mom đất ấy lỏng lỏng khiếp. Nhìn thôi cũng thấy như thể nó đang rung rinh mỗi khi có một cơn gió nhẹ thổi qua. Nhưng sự đời có nhiều thứ khó lòng lý giải rốt ráo được. Có những mảnh đất nhìn như sắp sụp xuống nhưng vẫn đứng đó năm này qua năm khác. Y như cuộc đời của nội Tám vậy.
Mẹ tôi kể, hồi mới lập làng, miếng đất bên phải bến Giá có vẻ vững vàng hơn nên người dân tận dụng trồng đậu trồng khoai. Còn phía bên trái của bến, bị nước sông gặm sâu, tạo thành những bức tường đất khuyết chân, nên bỏ hoang. Mà đâu dừng ở thế đất nghiêng và những bức tường đất khuyết chân, chỗ đó có vực xoáy sâu, gây chết chóc nên người dân hãi hùng đặt tên vực Đá Cối, nước xoay tròn như cái cối đá. Mẹ bảo hồi trước cũng có người tới trồng khoai trồng bắp nhưng một hôm nào đó, bò húc nhau bị rớt xuống vực xoáy, khủng khiếp hơn có người cũng rớt chân xuống vực… nên từ đó nó bị bỏ quên luôn. Kể cũng lạ, hồi xúm tới làm thì đất cứ chực đổ ùm xuống, tới chừng không ai thèm làm thì cứ mong mảnh vậy nhưng mưa dập gió vùi cũng hổng vỡ. Càng lạ hơn, tới chừng nội Tám tới khai khẩn thì nó lại càng đứng yên như chân đã được kiềng cố. Tôi tự nhiên buột miệng như có ai đó nói hộ mình: “Có khi nào “bộ đội đặc công” đã trấn giữ những tảng đất lỏng lẻo đó hem, mẹ?”. Mẹ gạt, bảo mê tín tào lao. Tôi lý lẽ bào chữa: “Chẳng phải mẹ nói tro cốt của “bộ đội đặc công” được Tám tự tay rải trước sông còn gì?”.
Mẹ lặng im…
Có lẽ mẹ đang chiêm nghiệm chuyện ra đời, tồn tại và phát triển trại dưa của người đàn bà thương tật trên mảnh đất hiểm trở đó. Để có một đám đất to, có hàng có rãnh thẳng tắp, dưa bí lá xanh mướt mườn mượt, quả nằm lục cục trên đất từ một vùng cỏ tranh, mắc cỡ chen lấn nhau để sinh tồn thì Tám phải đổ xuống đó bao thùng mồ hôi và nhẫn nại. Lúc thấy Tám mới bắt tay làm, người ta ái ngại như thấy cảnh ai đó đang loay hoay tìm cách bắc thang lên trời. Một mình, không biết mệt mỏi, cắm cúi dùng cuốc đào, lật, bứng từng gốc tranh, gánh từng thúng đất ở chỗ cao ụp lên chỗ đất thấp. Dàn xếp thử, nếu không ổn thì tính phương án khác – Tám trả lời khi ai đó hỏi. Nhưng càng làm, Tám càng thấy hành trình của mình tương đối ổn. Chỗ này đất cát, mềm xốp – Tám trả lời. Nhưng vấn đề một thân một mình sao gánh nổi? Một mình thì có sao, làm không xuể thì thuê người làm cùng.
Tám đã không bỏ cuộc trước sự lo lắng của người đã từng thất bại ở chính chỗ nội đang bắt đầu. Rồi cây cũng nảy mầm. Nhưng đâu phải cứ có trồng là có hái. Cũng hỏng ăn mấy mùa với lũ sâu bọ, khô dây rũ gốc ấy chứ. Nhưng dễ dàng bỏ cuộc không phải phẩm chất của Tám. Rút kinh nghiệm và tìm đến những trại dưa gần đấy học hỏi, Tám đã thành công.
“Lứa này già đi, lứa khác nảy mầm, màu xanh luôn phủ tràn trên đất mới. Ngữ như mình, hai chân như hai cái trụ mà làm như mèo mửa. Còn Tám, nhìn cái cách bả làm như rồng cuộn hổ cuốn, đố ai dám nghĩ đã bị bom đạn tước mất một bàn chân” – mẹ nói.
Vâng, nếu tôi không tiết lộ thì bạn khó lòng nhìn cảnh Tám quảy hai thùng nước sáng chiều đi tưới từng hàng dưa, đi lại linh hoạt mà nghĩ Tám chỉ có một bàn chân. Nguyên tuổi thơ mục đồng, tôi chứng kiến những bước chân nhẫn nại và kiên cường của Tám. Tôi chăn bò bên dưới trại dưa. Một cánh đồng ngập tràn cây cỏ và rau dại, bên dưới nữa là nghĩa địa từ thuở lập làng. Đồng rộng, bò tha hồ rong, cô chủ thường lên trại dưa chơi với Tám. Tôi hỏi:
– Tối ngủ ở đây bộ Tám không sợ ma hở?
– Ma họ sống với ma, liên quan gì mình mà sợ.
– Nhưng đó là ma ít, nên khó gặp, còn chỗ này ma nhiều mà.
Tôi làm như một nhà “ma học”, phân tích chành chẻ rằng:
– Vị trí địa lí trại dưa gần nghĩa địa, mả cũ, mả mới có hết. Chưa nói vẫn có tro cốt được rải trước sông, rồi những vong hồn chết trôi chết đuối. Ôi, con hình dung và bảo đảm chắc cú: có hẳn một cộng đồng ma ở đây.
Tám cười:
– Nếu có ma cũng chắc trẻ con mới sợ ma. Ma họ làm chuyện họ. Mình làm chuyện mình. Nên chẳng bên nào sợ bên nào cả.
Đem chuyện này về kể với mẹ, mẹ phán chắc mầm:
– Có ma sợ Tám chứ Tám gì sợ ma!
Mẹ nói quá rồi. Có can trường mạnh mẽ thế nào thì chỉ Tám vẫn là phụ nữ thôi. Tôi nhớ đâu chỉ một lần mình xăm xăm lại trại, thấy vắng hoe, đảo mắt nhìn một vòng thì hoảng hồn khi thấy Tám đang đứng chỗ mom sông. Tay cầm cuốn sách, không phải đọc mà chỉ cầm và đứng nhẫn nại cao đẹp như bức tượng vọng phu. Tôi đứng từ xa nhưng không dám thở mạnh, tôi sợ phá vỡ bức tượng đẹp đẽ kia. Tám hướng mắt về phía núi xa xăm rồi chuyển mắt về dòng nước xoáy của vực Đá Cối. Tôi nghi ngờ đó chính là nơi Tám nói chuyện với cõi hư vô nào đó, chứ không phải nơi Tám chọn để đọc sách. Tám trầm mặc, để mặc bóng chiều phủ lên mình. Trầm mặc đến nỗi khiến người xung quanh không nhận ra sự hiện diện của mình nữa. Mãi sau này tôi mới hiểu vì sao Tám hay ra đứng ở mom đất ấy. Chỗ đó nhìn thẳng xuống khúc sông nơi tro cốt người lính đặc công được rải theo di nguyện.
À, tôi vì muốn thân mật hơn nên gọi Tám chứ gọi đầy đủ phải là nội Tám (nội thứ trong họ). Có lần, tôi rón rén hỏi bị sao mà bàn chân biến mất dị Tám? Đó là loại mìn lá, được đối phương rải trên diện rộng, lấp dưới đất, bỏ lẫn vào lá trên những con đường mòn, nhét vào vỏ cây bên đường, có ba đầu sáu mắt cũng chẳng biết đường mà né. Lá mìn nằm dưới đất, khi có người hoặc vật nặng đi qua, sẽ bị kích nổ. Lá mìn nhỏ nhưng độ sát thương cao, nhưng kiểu đụng chỗ nào thì mìn hủy diệt chỗ đó. Tám mất bàn chân do giẫm phải – Tám giải thích. “Nếu biết chân đã đặt lên lá mìn, chắc con xỉu ngang mà chết chứ không phải đợi đến lúc nó phát nổ”.
Lúc giẫm lên, Tám chẳng hay, nhưng trực giác vẫn bứt rứt hoài nghi, nhưng không kịp để rút chân. Biết đã giẫm mìn nhưng hết đường tránh, không đủ thời gian để nghĩ “vậy là mình sẽ chết” thì một tiếng nổ tàn khốc phát ra. Choáng váng đổ ngã như cây chuối bị phạt ngang gốc. Tỉnh dậy, hoang mang cúi xuống thì bàn chân và chiếc giày đã bốc hơi. Máu chảy lạnh chân rồi mới đến cơn đau đớn khủng khiếp trút xuống. Thời gian trôi nhanh như nhịp thở con tim. Khoảng thời gian đợi được cứu mạng là những phút giây dài nhất trong cuộc đời. Lúc đó, thứ duy nhất khiến Tám biết mình vẫn còn sống là máu cứ ồ ạt chảy. Chưa lúc nào lại sợ chết như lúc ấy. Lúc Tám nghĩ mình đã hết đường về quê mẹ thì may thay, đã có đồng đội đi ngang ứng cứu. Tám kể.
Cuộc sống của một cô gái sẽ thế nào sau khi bị cắt cụt một bàn chân? Hỏi rất thừa. Đương nhiên không ổn cả về thể xác lẫn tinh thần. Bất tiện và mất tự tin với dáng đi lệch vẹo – dù có lỡ bộ lỡ thời thì cũng là con gái chưa chồng. Nhưng u sầu khóc lóc hay ăn chay cầu nguyện thì bàn chân cũng đâu mọc lại được – Tám nói bình thản. Tám được gắn vào bàn chân giả, tập làm quen và đã thuần thục tới mức nó gần như thay thế được bàn chân bằng thịt đã bị lá mìn cướp mất.

Mẹ thấy tôi quý mến và tò mò nên kể thêm chuyện tình huyền thoại của Tám. Đó là có một hồi, khi an dưỡng ở trung tâm điều dưỡng dành cho người có công, Tám gặp một người cùng cảnh ngộ. Ông là bộ đội đặc công, trong một trận đánh tại chiến trường Tây Nguyên năm 1965, bị thương một lần nhưng nhẹ, sau sắp đến ngày cuộc chiến kết thúc lại bị nặng. Mất nguyên một chi dưới, tệ hơn, còn hỏng một con mắt nữa. May mắn được bom đạn cho về làng, nhưng cũng không còn cha mẹ, và cô gái hai gia đình hứa hôn ngày trước đã không đợi được người trai biền biệt ngoài chiến trường nên đã cảnh chồng con đuề huề. Thành ra “bộ đội đặc công” ở tuổi trên năm mươi nhưng vẫn là trai tân. Lúc gặp Tám, biết “đồng đội” chưa có chồng nên tỏ ra ngại ngùng, nói chuyện kín kẽ, rất ý tứ giữ khoảng cách. Nhưng chẳng có khoảng cách nào từ những người may mắn được về từ chiến trường cả. Họ rất dễ tìm tiếng nói chung chỉ sau những lần trò chuyện tưởng chừng phớt lờ xã giao.
“Bộ đội đặc công” càng hiền lành nhút nhát, chính điều đó lại tạo được thiện cảm. Tám chủ động ngỏ lời luôn, mặc kệ chuyện trâu tìm cọc hay cọc tìm trâu, cái Tám cần bây giờ là hạnh phúc đời thường – thứ hạnh phúc không có mùi thuốc súng. Ông tặng Tám một cuốn sách viết về tuổi trẻ của họ do một đồng đội mới xuất bản. Như tín hiệu đèn xanh, Tám mạnh dạn thổ lộ. Vậy là họ thành một đôi. Càng thuận lợi hơn khi sự kết nối đó được xung quanh ủng hộ. Nụ cười đã không ngớt xuất hiện trên môi, của cả hai người.
Nhưng oan khiên thay, hạnh phúc là thứ khó cầm nắm nhất, lập trình số phận vẫn chưa hết cao trào với Tám. Chưa kịp về với nhau thì “bộ đội đặc công” đã về cõi mây trắng – chỉ trong một giấc ngủ.
Sau khi người lính ấy mất, Tám không còn thiết ngồi trong nhà nữa. Tám tìm đến bãi đất hoang bên bến Giá như tìm một việc gì đó đủ nặng để lấp khoảng trống trong lòng mình. Và công cuộc trồng dưa trên đất hoang rất phù hợp. Làm và làm như không kịp thở. Nhưng người ta vẫn thường thấy Tám đứng một mình ở mỏm đất bên bến Giá. Nghe kể, tôi thinh lặng, nước mắt ở đâu cứ chực trào chứ không nói một lời nào.
À, xin quay lại kể đoạn từ chiến trường trở về, Tám đã trở thành đứa con mồ côi.
Ngôi nhà của ba mẹ giờ thành nhà từ đường cho con trai Út. Cậu Út lấy vợ, sinh một bầy con sáu đứa. Chị đi lính về, chưa chồng nên cậu mới nới hiên nhà thêm gian nữa cho chị được thoải mái riêng tư. Nói vậy chứ “thoải mái riêng tư” gì được. Có cô ở bên cạnh, những đứa con của cậu Út suốt ngày quanh quẩn bên giang sơn của cô. Cô Tám bồng bế, tắm rửa, cho ăn cho ngủ. Có lúc những đứa cháu còn gọi nhầm cô Tám thành mẹ.
Nhưng sau bi kịch tử biệt, chuyến đò tình dang dở, Tám đi khai khẩn thửa đất hoang trước bến Giá thì trại dưa đã là nhà. Mấy đứa con cậu Út cũng lớn, và dường như, cuộc sống của chúng với Tám không liên quan gì với nhau nữa. Bằng chứng là nếu đem dưa về cho thì chúng ăn, nhưng chẳng thấy đứa nào một lần đến thăm trại dưa của Tám. Sự nhạt dần đó của quan hệ cô – cháu cũng là sự vô thường của cuộc đời. Có ai ngờ, từng thân tình như mẹ con nhưng rồi một ngày nọ bỗng hóa ra mạnh ai nấy sống.
Tôi đồ là chắc chẳng có đứa cháu nào nhớ lúc đám dưa còn trong giai đoạn thử nghiệm mịt mờ, Tám neo đơn chưa có nhà riêng nên chính quyền đã xây một ngôi nhà, trên miếng đất vườn còn dư, bên cạnh nhà cậu Út cho Tám. Có nhà rồi, Tám đi về giữa nhà và trại. Cùng lúc đó thì vợ chồng cậu Út mua miếng đất nhỏ, xây cái quán bán nước chỗ ngã tư con đường từ làng tới bến Giá. Quán mọc đúng chỗ nên làm ăn được, nên vợ chồng cậu Út biến quán thành nhà luôn. Bấy giờ, hai thằng con lớn của cậu Út đã có vợ có con, chúng bèn rủ nhau bỏ quê vô phố với giấc mộng đổi đời. Chúng đi, đem con tới quán tấp cho ông bà nội. Trong tình cảnh việc bị áp xuống tay nên ông bà nội phải miễn cưỡng trông cháu. Mỗi lần về xóm thăm nhà, lúc đi ngang quán, thấy hai đứa cháu bò lê bò càng, Tám xót lòng nên trại dưa thuê người trông coi, phần mình ở nhà trông cháu.
Nhưng sự đâu dừng lại ở đó. Một gánh nặng khác đã ập lên vai Tám khi vợ chồng cậu Út lần lượt đổ bệnh. Chồng tai biến, vợ bị ung thư phổi. Mấy đứa cháu ỷ có Tám nên bố mẹ ruột mình bệnh mà chúng làm như bố mẹ Tám vậy, tiếng đem bố mẹ về lo nhưng đích thực đem về giao đứt cho Tám. Bạn đã hình dung được cảnh chạy thăm trại dưa, về lo bầy cháu và chăm vợ chồng người em bị bệnh chưa? Chạy xấp chạy ngửa. Tám không có thời gian để thở luôn chứ nói đến than khóc – lời Tám. Quay như cái chong chóng gặp gió, ra sức đập như cánh cò ngược trong gió bão.
Rồi em trai mất. Nửa năm sau, em dâu cũng vội vàng rời cõi tạm sum họp với chồng. Hậu sự chồng chất hậu sự, Tám gầy xọp như cành cây khô. Mẹ nói, chắc chỉ còn mỗi bàn chân giả là không bị vắt kiệt. Mấy đứa con cậu Út, mất cha mẹ rồi thì lâm cảnh “gà bới bếp”. Con cùng cha cùng mẹ, sống chung trên mảnh đất từ đường mà sục rục, ậm ực suốt.
***
Hôm đó, tôi đem con về thăm mẹ. Mới về tới cổng thì nghe tiếng hét đinh tai trước nhà Tám – đối diện nhà tôi, cách nhau một mảnh vườn. Ngay tại góc sân nhà Tám, hai thằng cháu, thằng cầm dao thằng cầm rựa, chì chiết, rủa xả, hai khuôn mặt như hai ngọn đuốc chực lao vào nhau chỉ vì bụi chuối sau hè ông anh mẫn cán nhảy lấn cây con sang rào bên kia và vươn tàu qua mấy bụi rau bồ ngót nhà ông em. Ông em không chịu được việc bị ông anh cả quyền lấn chiếm, lấy rựa phật đứt cây chuối non quăng qua vườn ông anh. Ông anh nổi xung hét: ai trồng cho mày phá ? Mày dám dằn mặt tao hả? Mày muốn chặt thì tao đưa cái đầu ra nè, chặt đi! Một ông thò đầu qua rào, một ông cầm rựa sấn tới. Tôi đứng nhìn nín thở. Tám từ trong nhà chạy ra, thấy cảnh ấy thì chỉ há miệng chứ không kịp mở lời, mặt mày tím tái rồi ngã nhào như cây chuối bị lưỡi dao bén chặt ngang. Vậy là Tám đi, nhanh hơn một hơi thở.
Sống nhẹ nhàng, đi thanh thản. Đến ầm ào, đi lặng lẽ.
Bao năm bom đạn không làm Tám ngã. Mất chân không làm Tám ngã. Mất người thương không làm Tám ngã. Vậy mà giữa tiếng cãi vã không khoan nhượng tình thâm của những đứa cháu mình nuôi lớn, Tám ngã xuống thật. Tôi thiên theo ý mẹ: đã xứng đáng một kiếp để ngợi ca chứ không phải bi lụy khóc thương, giờ thì mừng cho Tám đã hạnh ngộ với “bộ đội đặc công” trước bến Giá.
Chiều xuống. Bến Giá vẫn đứng đó bên dòng sông. Như thể vẫn còn một người đàn bà đang lặng lẽ nhìn về phía nước xoáy Đá Cối.
NGUYỄN THỊ BÍCH NHÀN