Sự cô đơn

(VNGL – Văn học nước ngoài). Người dân chúng tôi bắt đầu rời bỏ quê hương vào đầu mùa xuân. Ông già Dash sẽ nhớ mãi ngày đó suốt đời. Dash ngồi bên đống củi gần chiếc lều của mình. Ông nhìn, gần như là một ảo ảnh mùa xuân, một đám gia súc và xe cộ di chuyển hỗn loạn dọc theo sườn núi phía Nam gần đó, với những kỵ sĩ phi nước đại khắp mọi hướng. Dash thấy vậy và lẩm bẩm một cách buồn bã: “Quê hương tội nghiệp của tôi, quê hương tội nghiệp của tôi”, chớp chớp đôi mắt ướt đẫm lệ. Ông liên tục nhổ nước bọt qua kẽ răng cửa, vỗ vào phía trước đôi ủng bằng đôi tay gầy gò nhưng gân guốc của mình.

Cầm một cái đĩa cũ kỹ, vợ ông bước ra từ bên trong một túp lều nhỏ thấp lè tè, được làm bằng một bức tường ngắn bằng những cột gỗ đen và lợp bằng vỏ cây, và hét lên: “Mũi tẹt, Mũi tẹt!”. Ngay khi bà hét lên, một con chó con màu xám mập mạp, xù xì chạy ra từ phía sau chiếc lều, nhảy nhót dưới chân bà nội trợ, lưỡi thè ra. Dash phớt lờ con Mũi tẹt thân thiện, và nhìn người vợ giản dị của mình với vẻ thờ ơ, vạt váy trước của bà rũ xuống không đều.

– Bà nhìn ngọn núi phía Nam kìa! Trông như thể họ đang chạy trốn chiến tranh vậy.

Vợ ông thở dài và lấy tay che đôi mắt già nua đã phai màu.

– Vậy là, trong khi họ đang bận rộn chuẩn bị di chuyển, chúng ta lại ngồi đây chẳng làm gì cả – bà nói.

Buồn bã, ông nói với vợ:

– Nếu bà cảm thấy thế, thì hãy thu dọn đồ đạc và đi theo họ.

Nghe vậy, vợ ông bước vào nhà, lẩm bẩm một mình. “Quê hương tội nghiệp của tôi. Họ đang nghĩ gì vậy, loại người nào lại bỏ rơi quê hương mình sau khi đã sống ở đây suốt bốn mươi năm? Họ nói chúng ta sẽ cùng nhau định cư, chúng ta sẽ định cư. Cỏ trên đồng cỏ sẽ không đủ, gia súc sẽ không bao giờ được gặm cỏ tốt trên đồng cỏ mới, bò sẽ không bao giờ cho sữa, và sản lượng sữa mùa hè chắc chắn sẽ thiếu hụt. Họ nói rằng chúng ta nên sống tập trung ở một chỗ, trong những tòa nhà hiện đại có điện. Những tòa nhà hiện đại đó ở đâu? Và tôi có thể làm gì… Ngay cả người vợ đần độn của tôi cũng có vẻ đang nói những điều vô nghĩa”.

Sau khi ăn ngấu nghiến hết thức ăn trong đĩa, Mũi tẹt tiến đến chỗ Dash, vẫy đuôi, nhưng Dash đá con chó bằng đôi ủng mùa đông bằng da nai của mình. Mũi tẹt, bị xúc phạm, bỏ chạy khỏi cơn giận của chủ với một tiếng kêu thảm thiết. Trong năm qua, các thành viên đội sản xuất của hợp tác xã đã thảo luận về việc định cư ở đồng cỏ mới gần trung tâm hợp tác xã, và chuyển từ đồng cỏ cũ, nơi có đất chăn thả tốt nhưng lại nằm ở phía bên kia núi và sông so với trung tâm huyện. Dash không muốn nghe bất cứ điều gì về chuyện đó.

Ban đầu, ông thuyết phục được những người lớn tuổi đứng về phía mình. Trong mỗi cuộc họp, họ đều phản đối và lên án việc bị buộc phải rời bỏ sự an toàn của vùng nước quê hương để đến những đồng cỏ mới. Nhưng khi ngày và đêm trôi qua, cuộc thảo luận về việc nên di chuyển hay ở lại bắt đầu trở nên bế tắc, đặc biệt là khi các thành viên trẻ bắt đầu kể những câu chuyện cổ tích về việc đến một vùng đất mới và xây dựng một thành phố với những ngôi nhà có cửa sổ kính và vắt sữa bò bằng máy.

Đôi khi ông tự hỏi tại sao mình lại khác biệt với những người khác và bắt đầu nhượng bộ. Nhưng khi ông đang phi nước kiệu trên con đường quen thuộc đó, ông biết mình đã quá quen với cuộc sống cũ, và ông nhớ lại hạnh phúc mà mình đã tận hưởng ở đồng cỏ quê hương. Trong những chuyến đi thời trẻ, ông đã trải qua nhiều gian khổ, lang thang và khám phá trái đất. Khi đến vùng đất này, ông không có chỗ ngủ và không có gia súc để chăn thả. Sau khi đến nơi, ông mua một con ngựa để cưỡi và gặp vợ mình. Năm tháng trôi qua, ông đã có thể thay đổi tấm phủ của chiếc lều từ màu xám sang màu trắng, và có một cuộc sống mà ông không còn bị buộc phải gặm nhấm phần xương còn sót lại nữa. Mỗi khi nghĩ về điều này, ông lại thề với chính mình rằng sẽ không rời bỏ đồng cỏ trù phú đã đối xử tốt với ông như vậy, cho đến khi chết. Dường như những người khác chẳng hề nghĩ đến điều này. Ngay cả những người cùng tuổi với ông cũng không đủ khôn ngoan để quan tâm đến đồng cỏ quê hương của mình.

Mặc dù các thành viên trong hợp tác xã cố gắng thuyết phục ông lão cứng đầu, ông vẫn nói:

– Được rồi, được rồi. Tôi sẽ ở lại đây và tiếp tục canh giữ đồng cỏ của mình. Tôi sẽ chăm sóc đàn gia súc ít ỏi của riêng mình, và tôi sẽ không gây rắc rối cho các ông. Và tôi sẽ sống sót bằng cách nào đó.

Mọi chuyện cứ tiếp diễn như vậy cho đến khi mùa xuân đến và những người hàng xóm bắt đầu di chuyển, lần lượt từng người một. Thỉnh thoảng vợ ông lại lẩm bẩm với ông:

– Làm sao gia đình chúng ta có thể ở lại đây một mình được?

Ông hét lên:

– Người phụ nữ ngốc nghếch của tôi, bà trở thành con người là nhờ ân huệ của mảnh đất này. Nếu bà muốn, cứ đi đi. Tôi sẽ ổn thôi, có bà hay không có bà.

Ông nhất quyết không chịu nhượng bộ. Bốn mươi năm bà đã kết hôn, và bà đã tin tưởng vào sức mạnh của chồng khi ông còn trẻ và sự khôn ngoan của ông khi ông về già. Nhưng giờ đây bà không thể làm gì khác ngoài việc lẩm bẩm một mình.

Ngày hôm đó, những trại cuối cùng của đội sản xuất đang di chuyển. Ông lão Dash ngồi bên đống củi cả ngày, khóc nức nở: “Quê hương tội nghiệp, quê hương tội nghiệp của tôi”, khi ông tiễn họ đi.

Vài đêm trôi qua. Lòng ông lão được an ủi bởi việc ông vẫn được ở lại quê hương. Nhưng vợ ông thì sôi sục khi nhìn những đồng cỏ trống trải, không một bóng người, không gia đình hay vật nuôi. Bà giã cối, chày, và buổi tối thì lùa gia súc về. Rồi bà chẳng thể làm gì hơn nữa. Bà cố gắng làm việc chăm chỉ và không còn cách nào khác ngoài việc ở lại và chờ đợi trong im lặng xem liệu ông lão cứng đầu có thay đổi ý định và nhượng bộ hay không. Thỉnh thoảng, một người lữ khách hoặc một xe chở thư sẽ đi ngang qua đồng cỏ bên sườn núi phía Nam gần đó, hoặc một đàn ngựa sẽ xuất hiện từ xa. Không còn gì khác để thấy trên đồng cỏ nữa.

Minh họa: Lê Duy Khanh

Sau một thời gian dài, mùa hè đến, và cùng với đó là những cơn mưa. Giữa tháng Bảy, ông lão phải đến trung tâm huyện để lấy bột mì, ngũ cốc, trà và thuốc lá. Vợ ông nổi giận, điều chưa từng xảy ra trước đây. “Tôi sẽ không ở lại đây một mình”. Ông lão tức giận đến nỗi ông nghĩ đến việc lấy dây cương trói vợ mình. “Nếu vậy thì, bà già mắt sưng húp của tôi, được thôi. Vậy thì bà tự đi đi”.

Bà lão đặt tấm lót yên ngựa dày bằng nỉ, yên ngựa và tấm bọc yên bằng da cũ kỹ, đã sờn rách, lên lưng ngựa. Bà buộc chiếc túi quà cưới của mình vào yên ngựa bằng dây da. Bà cố gắng leo lên ngựa để đến trung tâm huyện, vừa gập đầu gối vừa thẳng lưng, chân đá vào tấm bọc da. Khi đến trung tâm hợp tác xã, bà kiệt sức vì cưỡi ngựa và đau nhức khắp người.

Tại trung tâm hợp tác xã, những người hàng xóm cũ gặp bà và đưa bà đến khu định cư của đội họ. Ở đó có những ngôi nhà gỗ mới, được xây thành từng dãy, và bà thấy một chuồng vắt sữa, một chuồng bê có mái che một nửa, vân vân. Bà thấy ở đây mọi thứ đều ngăn nắp và sạch sẽ đến mức không tưởng, và bà vô cùng kinh ngạc và thích thú trước những gì mình thấy. Những người hàng xóm cũ khuyên bà nên đến sống cùng họ.

Bà quyết định chạy vội về nhà trong chiếc áo khoác da cừu, và lần đầu tiên, cãi nhau với chồng. Chú chó con Mũi tẹt, rất nhớ chủ, chào đón bà bằng cách chạy nhảy, nô đùa và liếm vào lòng bà, nơi nó ngửi thấy mùi sữa.

Nhưng ông lão chào đón bà với vẻ mặt tối sầm. Trong khi vợ vắng nhà, một con bê hai tuổi đã bị sói giết chết. Bà lợi dụng cơ hội này để trách mắng ông lão liên tục. Bà lặp đi lặp lại hàng vạn lần về việc những người hàng xóm cũ của họ giờ sống sung túc như thế nào.

Khi bà làm vậy, ông lão ngồi phịch xuống ở vị trí danh dự quen thuộc của mình.

– Bà biết gì chứ? Bà chẳng biết gì cả. Liệu gia súc có béo lên khi người ta sống trong nhà? Khi mùa thu đến, gia súc sẽ chết. Họ sẽ trải qua thảm họa này, rồi tất cả sẽ thấy.

Bà lão mở túi, lấy ra một gói thuốc lá và ném trước mặt ông lão.
– Thật khó chịu khi một người sống phải sống tách biệt khỏi người thân và bạn bè. Nếu ông cứ như thế này, tôi đành phải đi một mình vậy – bà lão nói với ông lão.

Ông lão cười nhạo đến đau cả bụng.

– Cứ làm đi. Có nghĩa là bà sẽ bỏ rơi tôi bây giờ, khi bà đã già đến nỗi hàm rớt xuống tận đầu gối sao? Chuyện đó có bao giờ xảy ra! Bà sẽ đi được bao xa nếu không có tôi?

Bà lão quay mặt đi khỏi chỗ ông đang ngồi. Bà đi cất những thứ bà lấy từ thị trấn vào rương, rồi bỏ đi, không nói thêm lời nào.

Vài đêm sau, ông lão trở về nhà từ một ngọn núi gần đó, nơi ông đi nhặt củi để làm cột rào. Nhưng ông không thấy khói bốc ra từ ống khói. Khi ông đến gần túp lều, Mũi tẹt không ra chào đón ông. “Bà ta thậm chí còn không đun nước pha trà”, ông nói với vẻ chán ghét. Nhưng khi bước vào chiếc lều, bà lão không có ở đó. Chiếc rương ở cuối giường gần như trống rỗng. Lúc đó ông mới nhận ra rằng yên ngựa và dây cương không có ở phía trước lều.
“Chết tiệt! Chuyện quái gì đang xảy ra vậy?”. Rồi, như người mất hết sức lực, ông ngồi phịch xuống giường, thở hổn hển, không biết nên tức giận hay nên cười.

Erdene Seng (1929 – 2000) sinh ra tại Binder, tỉnh Khentii, Mông Cổ. Ông là con trai của một người chăn gia súc ở Burytia, người đã bị giết trong các cuộc đàn áp chính trị những năm 1930. Là một tiểu thuyết gia và là bậc thầy truyện ngắn tâm lý, ông được xem như một trong những trụ cột định hình phong cách văn xuôi hiện đại Mông Cổ thế kỷ XX. Ông đã nhận được Giải thưởng Nhà nước Mông Cổ năm 1965, Giải thưởng Hội Nhà văn Mông Cổ năm 1976, và được phong tặng danh hiệu Nhà văn Nhân dân Mông Cổ năm 1994.

MẠNH HÀO dịch
(từ bản tiếng Anh)

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Chiếc lá mơ ước

Trong khu rừng này, ai cũng biết Dơi Nhỏ không thể nhìn thấy màu sắc. Đôi mắt của họ nhà Dơi Nhỏ vốn chỉ quen với bóng đêm đen trắng, lại thêm chứng mờ mắt bẩm sinh khiến cậu không nhìn thấy gì rõ ràng dưới ánh mặt trời…

Bàn tay ngoại

Tay gầy run gió già nua
Vá cho con cả những mùa nắng oi
Bàn tay nhặt tiếng chim trời
Đan thành nhịp võng ru đời mênh mông

Chú nhện giăng tơ

Kéo tơ qua ngọn gió
Vắt sang sợi nắng hồng
Đi lại giữa không trung
Nhện như đang diễn xiếc.

Bềnh bồng thân xa

Những điều chưa nói với em
Từ lâu tim đã ươm mềm lời duyên
Bạc đầu đời vẫn chưa yên
Phong ba chi lắm muộn phiền tóc xanh!