Từ trong con chữ nghe hồn rạ rơm

(VNGL – Đọc sách). Tìm về làng quê, lấy làng quê làm đề tài là khuynh hướng đã tồn tại từ rất lâu trong thơ Việt, có thể gọi đó là dạng thức “thơ điền viên”, thơ làng quê. Xa hơn, với một quốc gia có nền văn hóa bản địa hình thành trên nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, thì có thể thấy hơi thở của ngọn gió đồng thổi suốt chiều dài lịch sử thơ ca. Trong xu thế thơ chuyển dịch dần về phía đô thị, nhất là ở thế hệ trẻ với đầy những đổ vỡ, phân mảnh, hoài nghi, thơ về làng quê vẫn chảy một mạch nguồn lặng lẽ. Nhưng viết thế nào để trên những chất liệu ngỡ rất cũ vẫn khai phá ra cái mới, để lại một dấu ấn riêng, không nhàm nhạt cũ mòn, mới khó. Với Đảnh lễ mùa màng (NXB Hội Nhà văn, 2026), Nhiên Đăng đã thể hiện sự bền lòng đến mức gần như “lì lợm” trong việc cắm sâu uống tận nguồn mạch quê hương, thâm canh trên nguồn thi liệu quen thuộc, nhưng được thăng hoa qua xúc cảm và tư duy của nhà thơ “trẻ mà già”, để từ trong con chữ nghe hồn rạ rơm, từ cái hữu hình nhận ra thế giới vô hình.

Thế giới vô hình ấy, chỉ có thể nhận biết được bằng linh giác, vượt lên các giác quan thông thường. Nhiên Đăng đã gọi đó là Linh giác trắng, như tên tập thơ đầu tay của anh in năm 2023. Nhưng Nhiên Đăng không xây dựng nên cõi vô hình từ hư không, mà rất cụ thể, từ những chất liệu quen thuộc của quê hương mình, của làng Tình Giang nằm dưới chân núi Thạch Long, như anh tự nhận: Từ núi Thạch Long tôi đi/ mang theo bóng làng trong ký ức (Bóng chiều đổ xuống khói hương bay), của vùng đất Bình Định xưa trầm tích bao tầng lớp văn hóa lịch sử. Nới rộng hơn, từ kỷ niệm với những người, nơi chốn khác anh từng ở từng qua, nhưng vẫn trên tâm điểm hướng về nguồn cội. Dù là ở giữa thành phố phồn hoa, ngồi ngó vu vơ những bóng người qua, Nhiên Đăng vẫn nghe ra chất giọng đến từ mọi vùng miền, nhận ra hồn quê hiện diện: họ đến… từ những cánh đồng nghìn năm lam lũ/ hồn quê họ gói vào giọng nói (Trên đôi vai thành phố). Nói như người xưa, thơ Nhiên Đăng ghi lại tên làng tên đất, mang nặng thổ âm của quê hương, gọi tên sự vật, lưu giữ những đồng vọng bản quán: cha nhặt về trong giỏ những cá, cua và ngôn ngữ cánh đồng/ có tiếng nói người làng, tiếng nói tổ tiên tôi (Ngôn ngữ cánh đồng). Ngôn ngữ trong thơ anh mộc mạc như cất lên từ đất đai tro tàn nơi góc vườn là ngôn ngữ đất/ và bếp lửa là bài thơ thắp sáng giấc mơ tôi (Đảnh lễ mùa màng). Mộc mạc, nhưng dày dặn bề sâu của chiêm nghiệm, suy tư, để từ chất liệu đời thường kiến tạo một cõi lạ trong thơ.

Đọc thơ Nhiên Đăng, người đọc nao nao vì tiếng chim bìm bịp, chim dồng dộc, ao đìa, tre trảy, bụi lát, trái vông, hoa đu đủ đực, bánh tráng, bánh xèo hành lá… Nghĩa là, rất nhiều những thứ nhỏ nhoi dễ bị trôi khuất xa mờ trong dòng chảy hiện đại vội vàng muốn cuốn phăng những chỉ dấu tìm về. Đôi khi, ta thấy anh tham lam khi muốn giữ lại tất cả, dù là Căn nhà xưa/ mưa dột khói hong bếp bồ hóng/ tiếng rắn rít trong cái lạnh giao mùa/ giàn mướp bông vàng ong bầu lượn tới (Căn nhà xưa). Giữa rất nhiều những thất lạc đang diễn ra, thơ Nhiên Đăng cứ như một bảo tàng lưu giữ ký ức, mà với lòng yêu anh không muốn bỏ sót điều gì. Cứ như thế, như một hơi thở dài mà sâu đằm không trộn lẫn, neo giữ những tha thiết của ngày qua trong cái cúi đầu của lòng biết ơn những điều bình dị làm nên đời sống: Từ hừng đông bầy chim chở ánh sáng bày biện trên mặt đất/ tôi cúi đầu đảnh lễ mùa màng/ nơi hạt lúa lấm lem bùn đất/ của người làng nuôi nấng giấc mơ cơm áo cho lũ trẻ chúng tôi (Đảnh lễ mùa màng).

Nhưng thơ Nhiên Đăng không đơn thuần là gọi tên và bày tỏ niềm nuối tiếc về những chỉ dấu đang mất đi như cách quen thuộc của nhiều nhà thơ khi viết về đề tài này. Nét riêng, cũng là sự đột phá trong thơ anh, là sự thống nhất của cái bình dị, nhỏ nhoi với những điều thiêng liêng, xuyên thấu qua những tầng lớp của thực tại để nối kết những không gian – thời gian cách xa nhau, đọc ra “mật ngữ” trong lớp vỏ tồn tại. Viết về bánh tráng Bình Định, anh gợi dậy cả trăm năm miền cũ: Nghe Bình Định một miền loang lổ nắng/ trên mái đầu cô tôi cõng bánh tráng đi phơi/ cô phơi cả trăm năm lịch sử/ dưới bầu trời đất cũ Vijaya… (Trong khoảng lặng của bóng tháp & phù sa). Trong mấy câu thơ, dồn nén cả thực tại đời sống và bề sâu văn hóa, với chủ thể là con người bình dị cô tôi, hành động là sinh hoạt đời thường cõng bánh tráng đi phơi, vậy mà khái quát: Bình Định một miền loang lổ nắng. Con người nhỏ bé cõng đâu chỉ là vỉ bánh tráng, mà còn là dấu ấn một vùng đất với trăm năm lịch sử. Mà lịch sử – văn hóa, vốn khởi đầu và được lưu giữ bởi những con người bé nhỏ vô danh, như cách anh nêu lên Một định nghĩa về người làng: Những người đã đến đây xây nhà dựng cửa/ bây giờ lắng sâu vào đất đá cỏ cây/ họ là bông hoa gạo nở đỏ tháng Ba/ là trái khổ qua mùa hạ vàng nắng bên sông/ là cơn mưa xuân rải trên ngọn đồi bằng lăng/ là mặt trăng đêm rằm soi xuống mái chùa/ có tượng Phật Quan Âm tay cầm cành dương liễu. Có một sợi dây thầm lặng không dễ nhìn thấy nối thực tại vào quá khứ, tâm hồn nhà thơ lần tìm kết nối, trong mỗi bình dị chứa đựng những trầm tích sâu xa.

Nhờ trường liên tưởng đầy bất ngờ, nên không gian thơ Nhiên Đăng tưởng bó hẹp trong một vùng đất, một ngôi làng mà hóa ra rộng. Rộng trong sự phóng chiếu không giới hạn, trời – đất – người – sự vật – nghìn xưa – ngày sau… trong mỗi bài thơ và nhất quán trong cả tập thơ. Chủ thể trữ tình – tôi, khi thì lắng xuống, khi thì ngó lên trời, khi thì bước đi… để rồi thấy, và nghe. Cái sự thấy và nghe của nhà thơ có sự khác biệt, nên không có một giới hạn nào, thấy được những điều chưa ai thấy và nghe ra những điều huyền nhiệm. Một thực tại khác tồn tại dưới lớp vỏ của cái khả kiến khả tri, kiểu như Mưa lạnh suốt những ngày xuân/ lũ sâu ẩn mình vào diệp lục/ tôi nghe những ngón tay rụng xuống đất/ mọc lên ngôn ngữ cõi lạ (Nơi một bài thơ vừa giáp hạt). Liên tưởng của nhà thơ có sự dịch chuyển ra khỏi đường biên của logic, nhưng lại làm nên logic của sự mới mẻ sáng tạo, như khi anh nhìn thấy: người đội núi đi về phía tiếng chuông ngân (Sưởi ấm giấc mơ), mẹ cầm nhánh ca dao cấy xuống đất một lời ru (Bóng chiều đổ xuống khói hương bay)… Có sự đan xen giữa thực và mơ trong thơ Nhiên Đăng, với những thi ảnh đẹp lạ có phải giọt mưa ca dao vỡ đầu ngọn gió/ để con cá lòng tong theo con nước lũ xuôi nguồn (Tiếng gọi giao mùa). Cứ vậy, Nhiên Đăng vừa sử dụng thủ pháp kể chuyện, liệt kê, bày ra những chi tiết của đời sống với tất cả sự phong nhiêu của bản thân đời sống, vừa liên tưởng, tưởng tượng để dựng nên cõi lạ. Trong cõi lạ ấy, người làng đã khuất trong đêm mưa lọ mọ/ họ trở về ngồi trong mỗi hạt mưa (Một định nghĩa về người làng), Giữa mùa trăng gió đồng đêm trở mình lật lên ký ức/ hình bóng người làng còn vọng trong âm thanh tre trảy (Những ngọn khói rơm thơm), Những linh hồn sống dậy trên cánh đồng lúa chín/ họ gặt lúa, tát cá, ngồi che nắng, và kể chuyện làng (Nằm mơ giữa ngày). Nhiên Đăng hay nói về linh hồn, không chỉ là linh hồn của người xưa vẫn tồn tại đâu đây làm nên hồn xứ sở, mà còn thức dậy linh hồn của đất đai, cây cỏ, chim muông, gọi về ký ức một thế giới nơi con người và vạn vật giao hòa: gió từ cánh đồng mang theo phấn hương/ ướp đầy linh hồn màu trắng/ nơi một bài thơ vừa giáp hạt (Nơi một bài thơ vừa giáp hạt). Người đọc nhận ra xứ sở đôi khi chẳng phải bắt đầu từ những điều to tát cao siêu, mà được tạo nên bởi những vật những người nhỏ bé đời thường, như là một con cá lòng tong…

Đảnh lễ mùa màng gói gắm những vẻ đẹp nhỏ nhoi của quê hương mà Nhiên Đăng nặng lòng lưu giữ, cất lên thứ ngôn ngữ mộc mạc của cánh đồng mà ngân đọng bề sâu xúc cảm. Là mùa màng của đất đai nghe hồn rơm rạ dậy thơm, cũng là thành quả của một mùa thơ vừa độ chín, được gieo trồng từ khu vườn tâm hồn nhà thơ: trong mỗi hạt giống bóc vỏ vươn lên tìm ánh sáng/ là những nghĩ ngợi trong bóng tối/ để ngày mai bắt đầu/ mang trong mình hoa quả và tiếng chim (Vườn linh hồn tôi). Người đọc vẫn chờ mong những mùa màng mới của Nhiên Đăng trong cuộc hành trình không ngừng nghỉ đi tìm lại chính mình/ vang vọng trong hơi thở thời gian.

DUYÊN AN

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Tổ quốc không mất tên Anh…

Trong những ngày tháng Bảy ân tình này, chiến dịch 500 ngày đêm là đỉnh cao chạy đua với thời gian của toàn quốc nhằm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trên chiến trường trong và ngoài nước…

Dấu chấm than gửi vào ánh trăng và màn sương trắng

Lịch sử đi qua đời người bằng những dấu mốc, những biến động, những được mất và cả phán xét của hậu thế. Nhưng khi vào thơ, lịch sử không còn chỉ là những trang kể lại. Nó thành ký ức, thành thân phận…

Phía sau cổng trời bình yên…

Tập truyện ký được kết cấu thành chín chương, mở đầu bằng chương “Cô gái mất tích sau Tết” như một nút thắt gợi tò mò dẫn người đọc bước vào ngôi làng Kret Krot…