Tổ quốc không mất tên Anh…

Truyền thông “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”

(VNGL – Thơ và lời bình).

Trong những ngày tháng Bảy ân tình này, chiến dịch 500 ngày đêm là đỉnh cao chạy đua với thời gian của toàn quốc nhằm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trên chiến trường trong và ngoài nước. Tôi rất xúc động khi được đọc bài thơ Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh của nhà báo Văn Hiền (nguyên Phó Tổng biên tập báo Nghệ An), và càng thấy thấm thía ý nghĩa nhân văn mà tác phẩm gửi gắm.

Bài thơ được khắc trên bia đá của Nghĩa trang liệt sĩ Hữu Nghị quốc tế Việt – Lào ở Anh Sơn (Nghệ An). Không chỉ lay động người đọc bằng cảm xúc chân thành, bài thơ còn góp phần làm thay đổi nhận thức xã hội về cách gọi những liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Từ sức lan tỏa sâu rộng của bài thơ, tháng 7.1996, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu Chiến binh Việt Nam đã kiến nghị Chính phủ và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đổi tên gọi liệt sĩ vô danh thành liệt sĩ chưa tìm thấy tên.

Nhà thơ Văn Hiền đã kể cho tôi nghe về xuất xứ bài thơ với bao cảm xúc lắng đọng. Đó là một buổi chiều hè năm 1993, ông đến thăm Nghĩa trang liệt sĩ quốc tế Việt – Lào ở Anh Sơn và như chợt lặng đi khi nhìn vào dãy bia mộ liệt sĩ thấy có quá nhiều tấm bia ghi dòng chữ “Liệt sĩ vô danh”. Ông thoáng giật mình nhận ra bản thân và tất cả chúng ta đang thật vô tâm chỉ vì một cách gọi chưa chính xác, tại sao lại vô danh? Tất cả chàng trai, cô gái ưu tú của đất nước trước khi ra tiền tuyến đều có họ tên đầy đủ, có quê hương, cha mẹ và một cuộc đời riêng? Phải làm gì để đổi thay sự vô tâm, vô ý này? Từ nỗi day dứt ấy, bài thơ được viết ngay bên những phần mộ chỉ trong khoảng một giờ đồng hồ, như một tiếng lòng bật lên trước sự hy sinh vô bờ của những người lính.

Cái hay của bài là năm điệp khúc như năm ngón tay xòe ra thân thiết: “Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh – Anh có tên như bao khuôn mặt khác” với những cung bậc cảm xúc khác nhau như những cung đàn trầm, bè trầm vẽ nên gương mặt thân yêu của người liệt sĩ. Đó vừa là lời khẩn cầu, vừa là sự khẳng định, cũng là lời nhắc nhở đối với mỗi chúng ta. Điệp khúc ấy trở thành trục cảm xúc xuyên suốt, nâng đỡ toàn bộ bài thơ.

Tôi chợt nhớ đến bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu khá nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nếu nhà thơ Chính Hữu mở đầu bằng những câu thơ khắc họa nguồn cội người lính: “Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” thì ở đây, nhà báo Văn Hiền cũng trở về với cội nguồn của người lính bằng những hình ảnh mộc mạc, cảm động: “Anh nhận ra lưỡi cày, lưỡi hái/ Vẹt mòn dưới nắng, dưới mưa”; và: “Hạt lúa củ khoai nuôi Anh khôn lớn/ Tháng Tám nước trong, tháng Năm nắng trải/ Bàn chân săn chắc dáng trai”. Vô danh sao được khi: “Mẹ sinh Anh tròn ngày, tròn tháng/ Cha đặt tên chọn tuổi, chọn mùa”. Một ước định thời gian qua sự từng trải để “tròn” từ “chọn”. Ngày, tháng, tuổi, mùa cứ lớn rộng ra cứ bồi đắp thêm để hình hài của anh lớn lên, để tâm hồn anh rộng mở, bình dị mà kiêu hãnh, trở thành một chàng trai trưởng thành lên đường nhập ngũ với bao tình cảm gắn bó thân thiết với người thân, người yêu.

Đến khổ thơ viết về ngày lên đường, câu thơ mở ra sống động: “Ngày lên đường bờ vai mặn chát/ Mắt ai vấn vít hàng quân”. “Bờ vai mặn chát” là vị mặn của nước mắt chia ly, còn “mắt ai vấn vít hàng quân” gợi nên biết bao lưu luyến, yêu thương. Hai câu thơ ngắn mà gói ghém cả tình riêng trong nghĩa lớn. Chính hai câu thơ này đã bồi tạo nên sự tươi mát, tươi trẻ, tươi sắc khí của một mạch thơ nhiều day dứt trăn trở, nhiều hồi tưởng ngẫm ngợi sâu xa.

Ta biết rằng, mỗi liệt sĩ hy sinh khi chưa tìm ra tên tuổi, quê quán mang theo cả bao bí mật nhưng không bí ẩn. Ở dưới đáy ba lô của người lính hầu như đều có lọ thủy tinh ghi rõ địa chỉ tên tuổi nhưng sự tàn khốc của chiến tranh đã xóa đi dấu vết. “Chiến trường gần, chiến trường xa đuổi giặc/ Tên làng, tên đất theo Anh”, những dòng ấy làm tôi chợt nhớ đến câu thơ rất hay có sức khái quát của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân”. Ở đây, người lính mang theo cả tên làng, tên xóm, cả những ký ức tuổi thơ cả những nỗi niềm xao xuyến, để rồi có người mãi mãi nằm lại nơi đất lạ xa xôi…

Xót xa nhất là khi bài thơ chạm đến khoảnh khắc chiến tranh đã lùi xa nhưng những mất mát vẫn còn khiến ta ngậm ngùi: “Bình yên sau cuộc chiến tranh/ Anh trở về không tên không tuổi/ Trắng hàng bia/ Những ngôi sao không nói/ Rưng rưng cỏ mọc dưới chân”. Đây có lẽ là một trong những đoạn thơ giàu sức gợi nhất. “Những ngôi sao không nói” vừa gợi hình ảnh ngôi sao trên những tấm bia liệt sĩ lặng câm giữa nghĩa trang, vừa gợi sự lặng im của lịch sử trước những hy sinh quá lớn. Trên những nấm mộ ấy, cỏ vẫn xanh, phủ lên người lính một màu của sự sống và ký ức, như đang âm thầm gìn giữ, tri ân những người đã ngã xuống. Có thể đến hôm nay, vẫn còn những liệt sĩ chưa tìm lại được danh tính. Nhưng, không ai là “vô danh” cả. Bởi, như chính bài thơ đã khẳng định: Tổ quốc không mất tên Anh…

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh
Anh có tên như bao khuôn mặt khác
Mẹ sinh Anh tròn ngày, tròn tháng
Cha đặt tên chọn tuổi, chọn mùa
Anh nhận ra lưỡi cày, lưỡi hái
Vẹt mòn dưới nắng, dưới mưa.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Hạt lúa củ khoai nuôi Anh khôn lớn
Tháng Tám nước trong, tháng Năm nắng trải
Bàn chân săn chắc dáng trai.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh
Anh có tên như bao khuôn mặt khác.
Ngày lên đường bờ vai mặn chát
Mắt ai vấn vít hàng quân.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh
Anh có tên như bao khuôn mặt khác
Chiến trường gần, chiến trường xa đuổi giặc
Tên làng, tên đất theo Anh.

Bình yên sau cuộc chiến tranh
Anh trở về không tên không tuổi
Trắng hàng bia
Những ngôi sao không nói
Rưng rưng cỏ mọc dưới chân.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Tổ quốc không mất tên Anh
Chỉ lặng thầm nhận về mình
nỗi đau xanh cùng năm tháng.

VĂN HIỀN

NGUYỄN NGỌC PHÚ

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Dấu chấm than gửi vào ánh trăng và màn sương trắng

Lịch sử đi qua đời người bằng những dấu mốc, những biến động, những được mất và cả phán xét của hậu thế. Nhưng khi vào thơ, lịch sử không còn chỉ là những trang kể lại. Nó thành ký ức, thành thân phận…

Phía sau cổng trời bình yên…

Tập truyện ký được kết cấu thành chín chương, mở đầu bằng chương “Cô gái mất tích sau Tết” như một nút thắt gợi tò mò dẫn người đọc bước vào ngôi làng Kret Krot…

Người đặt tên mình là cỏ

Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công sinh năm 1946 tại Mộ Đức. Theo ông thì cái tên ấy gắn với một kỷ niệm của cha ông – nhà cách mạng lão thành Hồ Thiết, để ghi nhớ ngày cách mạng tháng Tám thành công…