(VNGL – Ghi chép). Tháng Bảy, đồng hành cùng các nghệ nhân, nhà nghiên cứu ngược đèo An Khê, thực tế tại các xã khu vực phía Tây tỉnh, tôi được gặp gỡ nhiều nghệ nhân, người có uy tín đang hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số. Một chuyến đi mở ra những kết nối mới, và cho tôi thêm một lần chạm vào những giá trị văn hóa đang âm thầm sống trong muôn nẻo của tỉnh nhà Gia Lai.
Thêm mạch kết nối
So với nhiều Chi hội khác, Chi hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số khá ít hội viên. Mặt khác, ở Hội VHNT tỉnh Gia Lai cũ không có chi hội này. Nên, khi nhà nghiên cứu Yang Danh, Chi hội trưởng Chi hội VHNT các Dân tộc thiểu số đề xuất chuyến thực tế, lãnh đạo Hội đã rất kỳ vọng. Chuyến đi không thuần về chuyên môn mà còn hướng đến việc phát hiện, bồi dưỡng để phát triển lực lượng hội viên mới cho Chi hội. Đoàn chúng tôi đi qua từng nếp làng, lắng nghe hơi thở dài của núi rừng qua những bài sử thi mê mải, khúc dân ca xao xuyến và cả nhịp cồng chiêng vang vọng. Không dừng lại ở việc thu thập tư liệu, đoàn chủ ý đi tìm những “đốm lửa” mới, là những người con của làng có tài, có tâm với văn hóa dân gian để nối dài thêm mạch sống cho Chi hội, cho văn hóa dân gian Gia Lai.
Qua sự kết nối tận tình của cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chúng tôi đã gặp những nghệ nhân đầu tiên ở Gia Lai Tây. Trước hết, là Nghệ nhân Ưu tú Rơ Châm Tih (dân tộc Jrai), người chuyên chế tác và biểu diễn nhạc cụ dân tộc tại làng Jút 1, xã Ia Hrung, tôi đã được nghe về anh rất nhiều, nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp mặt. Phải nói rằng, anh là một người rất chuyên nghiệp trong khâu chế tác nhạc cụ truyền thống. Đến thăm nhà NNƯT Rơ Châm Tih vào buổi chiều nắng ấm, chúng tôi không khỏi bất ngờ trước một không gian tràn ngập các loại nhạc cụ dân tộc, từ đàn t’rưng, k’lông pút, k’ni, ting ning… Bén duyên với nhạc cụ dân tộc từ năm 12 tuổi, đến nay, NNƯT Rơ Châm Tih đã có gần 40 năm gắn bó với âm nhạc truyền thống và đã đi biểu diễn một số nước trên thế giới.

Với Rơ Châm Tih, đam mê không chỉ dừng lại ở việc chơi nhạc, chế tác nhiều loại nhạc cụ mà còn mong muốn khám phá và phát triển các loại nhạc cụ dân tộc. Chính anh đã sáng tạo và chế tác cây đàn klek lok. Nhìn những ống nứa được gọt vót láng bóng, bày xếp để tạo nên những giai điệu theo từng nhịp gõ, lại nghe âm thanh ngân lên giữa chiều muộn thanh vắng nơi góc làng, mới thấy như tre nứa có hồn, như bàn tay người nghệ nhân có lửa, biết hơ ấm cảm xúc người chung quanh. Với việc chế tác nhạc cụ, anh làm tỉ mỉ, kì công nên đẹp về thẩm mỹ và chuẩn về âm thanh. Anh kéo tay tôi ra gian bếp sau nhà mình và chỉ lên đống tre nứa đã ám khói dày đặc, bảo, phải để phơi bên bếp như này suốt một năm để sấy và “ủ” nguyên liệu.
Rơ Châm Tih được công nhận là Nghệ nhân Ưu tú từ năm 2015.
Những hạt nhân giữ lửa
Lần đi này, chúng tôi gặp thêm nhiều nghệ nhân. Nhưng có lẽ, ấn tượng hơn cả là buổi ghé nhà nghệ nhân Siu Thưm ở làng Plei Roh, phường Diên Hồng. Vừa bước vào sân, đã nghe tiếng người, tiếng nhạc cụ, tiếng cười nói rộn ràng. Căn nhà bỗng giống như một “nhà văn hóa” thu nhỏ của làng. Hàng chục nghệ nhân, già có, trẻ có, đang tụ về, người lo đạo cụ, người chỉnh lại nhạc cụ, người thử một điệu múa Jrai. Họ chuẩn bị lên đường ra Huế biểu diễn Hội diễn đàn, hát dân ca 3 miền toàn quốc năm 2026.
Siu Thưm đứng giữa đám đông, lúc chỉ cho người này cách chỉnh chiêng, lúc cúi xuống xem lại một món đạo cụ. Nhìn anh xoay xở với những người anh em trong đội, tôi chợt hiểu cái gọi là “hạt nhân văn nghệ” mà NSƯT Đặng Công Hưng, Chủ tịch Hội VHNT nói về anh bằng sự quý mến và tin tưởng. Cũng như bao đứa trẻ Jrai khác, Siu Thưm lớn lên trong tiếng hát của cha mẹ, ông bà. Những làn điệu dân ca, những âm thanh cồng chiêng ngấm vào anh từ thuở nhỏ. Mới 15 tuổi, anh đã thuộc cách đánh nhiều loại đàn, thuộc những bài dân ca Jrai. Rồi càng lớn, niềm mê đắm ấy càng kéo anh đi xa hơn. Anh chú tâm tìm hiểu nhạc cụ, học cách chế tác, sưu tầm đàn đá, t’rưng và nhiều nhạc cụ dân tộc khác. Cái gì chưa biết thì hỏi người già, cái gì chưa làm được thì mày mò làm cho bằng được. Có lẽ, giữ văn hóa đôi khi bắt đầu từ những việc giản dị như thế.
Siu Thưm không giữ cho riêng mình. Anh đem những gì mình biết truyền lại cho những người trẻ khác. Từ chỗ làng Plei Roh chỉ còn lác đác vài người già biết đánh cồng chiêng, nay đã hình thành một đội cồng chiêng và nhạc cụ dân tộc đông và vững với hơn 40 thành viên. Người biết nhiều chỉ cho người biết ít. Người lớn dạy trẻ con. Những bàn tay từng ngập ngừng với chiếc chiêng nay đã biết tìm nhịp, biết lắng nghe tiếng chiêng của nhau. Và lũ trẻ, sau những giờ học, lại ríu rít kéo nhau đến nhà “thầy” Siu Thưm. “Nhờ có anh mà nhiều thanh niên ở làng Plei Roh và các làng lân cận gắn bó thêm với câu ca, điệu nhạc, tham gia múa hát, chế tác nhạc cụ, giữ hồn cốt dân tộc mình”, NSƯT Đặng Công Hưng chia sẻ.

Trong đám trai làng hôm ấy, tôi chú ý đến Rơ Cơm Bus, chàng trai sinh năm 2002, có vẻ ngoài rắn rỏi, mái tóc dài và phong thái lãng tử đến mức được gọi vui là “Tarzan Tây Nguyên”. Bus là một trong những hạt nhân của đội cồng chiêng Plei Roh, đồng thời tích cực làm nội dung trên mạng xã hội để lan tỏa nét đẹp văn hóa đại ngàn. Bus tâm sự: “Em cũng là thành viên trong đội cồng chiêng của thầy Siu Thưm, được thầy chỉ dạy, nâng đỡ. Em mê cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc từ nhỏ nên theo học và tham gia biểu diễn cùng các anh, các chú”. Tôi nhìn Rơ Cơm Bus rồi nhìn những gương mặt trẻ đang chia sẻ chân thành về niềm say mê với nhạc cụ truyền thống, văn hóa bản địa, bỗng thấy câu chuyện bảo tồn văn hóa không còn là một khẩu hiệu xa xôi. Nghệ nhân Ưu tú Yang Danh vui ra mặt. Ông bảo, nếu mỗi làng đều có những người như Siu Thưm, như Rơ Cơm Bus, thì lo gì văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số bị mai một.
Rời Plei Roh, chúng tôi lại tìm đến tổ dân phố Plei Pyang, xã Kông Chro, gặp hai nghệ nhân Bahnar là Đinh Bri và Đinh Uế. Cả hai đều là những người am hiểu văn hóa dân gian, nổi tiếng với nghề tạc tượng gỗ truyền thống và chế tác, biểu diễn các loại nhạc cụ dân tộc. Năm 2021, cả hai được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú. Khi đi loanh quanh thăm thú ngôi nhà của nghệ nhân Đinh Bri, trước mắt tôi là những thân gỗ còn nguyên vẻ thô mộc. Họ chỉ có dao, đục và đôi bàn tay đã quen với từng thớ gỗ, vậy mà qua vài đường đục, một hình người hiện ra. Rồi con chim, con thú, một dáng đứng, một khuôn mặt… Mỗi bức tượng dường như tự kể câu chuyện của mình bằng những đường nét mộc mạc, có khi xù xì, thô ráp, nhưng cuốn hút kỳ lạ. Tôi đứng khá lâu trước những bức tượng ấy. Trong mỗi nhát đục của Đinh Bri, Đinh Uế dường như có cả ký ức của cộng đồng: một cách nhìn về con người, núi rừng và thế giới tâm linh được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu một ngày đôi tay những nghệ nhân ấy dừng lại, có thể một phần ký ức cũng sẽ im tiếng.

Sau những cuộc gặp gỡ với các nghệ nhân, nhà nghiên cứu Yang Danh đã bảo rằng: “Chuyến đi thật thành công. Có nhiều nghệ nhân quá xứng đáng để kết nạp vào Hội VHNT nói chung và Chi hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số nói riêng. Phải khẳng định rằng, họ thực sự như ngọc quý để lưu giữ văn hóa bản địa. Đây là hạt nhân nòng cốt cho hoạt động văn hóa của tỉnh. Chúng ta phải làm sao tạo điều kiện cho các nghệ nhân giữ lửa, truyền nghề, lan tỏa cho thế hệ trẻ”.
Những nghệ nhân chúng tôi gặp chỉ là vài cái tên giữa hàng trăm người đang lặng lẽ giữ nghề, giữ hồn văn hóa trên mảnh đất này. Họ ít nói về “bảo tồn”, chỉ miệt mài làm việc của mình. Và chính từ những bàn tay âm thầm ấy, hồn cốt một dân tộc vẫn được truyền lại, để tiếng chiêng, điệu múa, nghề truyền thống… còn được gìn giữ và trao truyền giữa đại ngàn.
GIA BÌNH



