Viết như là sự chia sẻ: Trường hợp “Đi qua miền nhớ” của Lệ Thu

(VNGL – Đọc sách). Viết mặc nhiên là để chia sẻ. Chia sẻ tư tưởng, chia sẻ nỗi niềm. Nhưng trong thời đại cái danh, cái lợi chi phối vào nghề viết, nhà văn viết còn vì nhiều thứ “to” hơn là để chia sẻ. Trường hợp Đi qua miền nhớ (NXB Văn học, 2026), Lệ Thu đã chọn mục tiêu tối giản của văn chương: chia sẻ ký ức của mình. Ký ức về chiến trường và cả thời hậu chiến, nơi chị đã đi qua hết cả cuộc đời.

Trong bài viết về 50 năm văn xuôi Bình Định, khi nói về Nhật ký nữ nhà báo chiến trường của Lệ Thu, tôi có gửi gắm theo bộc bạch của chị: “Rất tiếc, với chất liệu ngồn ngộn và tươi rói ấy, chị không đủ “sức lực” để biến thành một tiểu thuyết, mặc dù trên từng trang nhật ký của chị, những chất liệu ấy đã được xử lý bằng một hình thức ngôn từ giàu chất nghệ thuật và thấm đẫm tinh thần nhân văn”. Nay nữ nhà báo chiến trường ấy đã dành “sức lực” còn lại của mình để hình thành một tiểu thuyết, dày gần 300 trang, như là nỗ lực đắp bù cho sự nuối tiếc ấy.

Ở tuổi vượt qua bát tuần, quá khứ thường như bộ phim quay chậm, tái diễn những gì một cá nhân từng nếm trải, cả ngọt bùi lẫn đắng cay. Là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc từ tuổi mười lăm, sống trọn vẹn với thời bao cấp khó khăn, thiếu thốn, rồi làm nhà báo chiến trường lăn lộn trong lửa đạn, cho đến khi trở thành một lãnh đạo văn hóa văn nghệ, một chính khách giữa nghị trường. Buồn vui trần gian chị nếm đủ để có thể dựng thành một tiểu thuyết.

Tôi không thể phân biệt bao nhiêu thực, bao nhiêu hư trong từng trang tiểu thuyết ấy. Nhưng chắc chắn đó là tiểu thuyết của cuộc đời chị được viết ra từ một trái tim ấm nóng tình người.

Tiểu thuyết, theo nghĩa gốc, là chuyện nhỏ kể giữa đời thường. Dù về sau, thể loại này mở rộng quy mô khác nhau: tiểu thuyết đời tư, tiểu thuyết thế sự, tiểu thuyết lịch sử…, nhưng vẫn giữ nguyên gốc ở “tiểu tiết”. Thiếu “tiểu tiết”, tiểu thuyết không còn là tiểu thuyết.

Nếu bạn muốn tìm ở Đi qua miền nhớ một tầm tư tưởng lớn lao về chiến tranh và hòa bình, một sự phản tỉnh như trào lưu hậu chiến đã và đang diễn ra, bạn sẽ hụt hẫng. Nếu bạn muốn có ở tiểu thuyết này một cấu trúc tân kỳ hiện đại hay hậu hiện đại, bạn sẽ thất vọng. Lệ Thu không cần ở số ít những người đọc khó tính với những ham muốn theo trào lưu ấy. Được cái này mất cái khác. Chị đang cần sự đồng cảm để chia sẻ nhiều hơn với tất cả mọi người. Lệ Thu luôn nuôi tín ngưỡng của mình về cách mạng như một lập trường tư tưởng tinh sạch, nhất quán, dù thế cuộc đổi thay. Lệ Thu kể lại một cách tuyến tính sự kiện của đời mình và bạn mình như chính dòng ký ức đang sống lại trong tim. Không cần một lối văn góc cạnh, tất cả trôi chảy một cách điềm đạm, bình dị như lời “bà kể cháu nghe”. Không phải cổ tích mà là chuyện thực của đời bà. Đúng nghĩa chia sẻ, cho con cháu, cho thế hệ sau, ngay trên quê hương, đất nước mình.

Đi qua miền nhớ đẹp ở cả hai phần chiến tranh và hậu chiến. Chiến tranh đẹp trong máu lửa. Hậu chiến đẹp trong sự xô bồ. Chị không cố công dàn dựng cái cấu tứ ấy mà chính trái tim trong trẻo của chị dàn dựng thay. Trái tim của tình yêu đôi lứa và tình yêu quê hương đất nước đã thanh lọc, hóa giải bối cảnh đau thương và tranh chấp sinh tồn. Nói theo Nguyễn Tuân, những nhân vật như Phương, Minh, Trung trong Đi qua miền nhớ là những “thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”.

Miền ký ức, phần chiến tranh, tràn ngập ánh trăng cổ tích. Khi điện đã thay trăng chiếu sáng mọi ngóc ngách, từ đồng quê đến thành thị, những trang văn trong Miền ký ức thắp sáng lại vầng trăng trên bến sông Gò Bồi, trên Gò Tháp, trên bãi biển Quy Nhơn năm xưa. Khi khắp nơi, chỗ nào cũng đồng phục keo, bạch đàn chờ bóc vỏ và xay ra làm giấy, những bụi dúi, những cây chà là hoang sơ trong lời kể của bà như sống lại, như tươi xanh lần nữa. Và tình yêu của tuổi mười lăm, trong mát như trăng, ngọt bùi như những quả chà là, của chính bà, trong đêm hội hát tuồng, trong thử thách của hai miền chia cắt, thành tấm gương để các cháu soi chiếu lại nguồn cội của mình trước thứ hiện sinh thực dụng đang làm mờ lấp hết. Tình yêu của giới trẻ bây giờ không còn cái cảnh của bà năm xưa: “Hai đứa đi bên nhau. Con đường quê heo hút, những bụi dúi, bụi tre thỉnh thoảng hiện lên trong ánh trăng, tạo thành những hình thù kỳ dị…” , “Khi ngang qua Gò Tháp, dọc theo con đường mòn giữa một bên là bến sông có doi đất nhỏ trên bờ – nơi người ta từng đặt thi thể người chết đuối vừa được vớt lên – và một bên là những ngôi mộ cổ đen sì của người Chăm lừng lững dưới ánh trăng…”. Chỉ có trong mơ, loại giấc mơ sâu thẳm mang tên “cổ mẫu” bật dậy trong tâm thức cộng đồng, như C. Jung nói. Tình yêu thời của bà đi trong cái ranh giới giữa sống và chết, đầy bất trắc, mong manh, nhưng bền vững với thời gian. Bền vững nhờ tình yêu gắn liền với lý tưởng, với khao khát, đợi chờ. Lưu Phương, hương thơm của trăng quê được lưu giữ, và Minh, ánh sáng tương lai của văn minh soi chiếu đến, đã tạo nên cặp đôi chảy suốt qua miền ký ức của bà; và khi được chia sẻ, chắc chắn sẽ đánh thức trái tim của con trẻ về một cội nguồn sâu thẳm và một tương lai xa xăm. Không cần hư cấu, chính những tiểu tiết se duyên, chia ly và nối kết, thất vọng và hy vọng rất đời thường trong bối cảnh chiến tranh ấy đã phóng chiếu thành tư tưởng bất ngờ, cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, giữa tinh thần và vật chất, khác lạ với những bộ não “đô thị hóa”, “công nghiệp hóa” thực dụng hiện nay.

Chiến tranh là bóng tối của hận thù. Nhưng ở thẳm sâu của trái tim đầy nữ tính của một nhà báo chiến trường, tình yêu và lòng nhân hậu vẫn chiến thắng.

Cho nên, ở phần Hậu chiến, “mặt trận không có đạn bom”, chỉ có những toan tính, những tranh chấp sinh tồn nhưng khốc liệt hơn cả đạn bom, trong lời “bà kể cháu nghe”, vẫn được nhìn qua trái tim bao dung, vị tha. Những “tiểu tiết” về phòng “tân hôn” cho cha mẹ, tự nó hóa giải những tình cảnh trái ngang, cay đắng của những cặp vợ chồng Bắc – Nam dù sum họp một nhà nhưng đổ vỡ hơn cả phân ly. Những “tiểu tiết” về sự che chở cho thân phận những đồng chí bị bỏ rơi, sẻ chia từng đồng cơm bát gạo cho người nghèo đói của bà, tự nó hóa giải bệnh hách dịch, quan liêu của quan chức, thanh lọc những trò toan tính, lừa lọc của con buôn và sự hèn mọn của dân đen. Bà kể trong nghẹn đắng nước mắt: “Thập niên 1980. Đất nước đói nghèo, xơ xác. Cái đói làm người ta co cụm, cái lợi làm cho người ta toan tính, cái hèn làm người ta cúi đầu”. Bao dung và tha thứ là đạo đức của trái tim bà. Không cần áp đặt thứ đạo lý đã thành khẩu hiệu nơi cửa miệng của nhiều người. Với bà, các triệu chứng của thời hậu chiến, xét đến cùng cũng vì sự mưu sinh trong một cơ chế xã hội còn nhiều trục trặc. Có thể các cháu trẻ hụt hẫng khi nghe bà kể lướt nhanh qua những triệu chứng thời hậu chiến, chỉ thấy gom lại bằng thơ, nhưng chắc chắn sẽ đọc hiểu được cái ẩn dụ mang tư tưởng này của bà: “Một sai số rất nhỏ – thứ mà nhiều kỹ sư bỏ qua – nhưng đủ để giết cả một hệ thống”. Cơ chế xã hội như một bộ máy, khi thiết kế, thử nghiệm tất yếu phải bắt đầu từ sai đến đúng, nhưng có những cái sai không biết biến thành bài học đã làm cho hệ thống tan vỡ, và niềm tin sụp đổ. Lịch sử không dạy các cháu bài học về sự thất bại thì bà đúc kết cho các cháu nghe, bằng trải nghiệm của người trong cuộc: “Ở đây, máy vẫn hỏng vì những lý do rất quen: vội, nể, sợ trách nhiệm. Tôi nghĩ giới hạn của máy không đến từ việc nó thông minh đến đâu, mà từ việc người dùng nó có dám chịu trách nhiệm đến mức nào. Nếu một hệ thống giữ ký ức, thì phải có một hệ thống giữ đạo đức đi kèm. Không phải khóa, mà là thước đo, để người vận hành tự soi”.

Hậu chiến là cuộc chiến sinh tồn đang lấn át cả lý tưởng. Bà khắc khoải với điều đó bởi ánh sáng lý tưởng trong trái tim bà không chịu vụt tắt theo cái đầm lầy đua tranh của vật chất đời thường.

Đi qua miền nhớ, bề ngoài có vẻ lan man, tưởng như nhớ đâu kể đó của người già, nhưng bên trong mạch ngầm của truyện vẫn có một kết cấu chặt chẽ, lý tính. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt truyện, kết nối cả thời chiến lẫn hậu chiến là tình yêu tuổi trẻ. Mối tình giữa Phương và Minh trong trẻo như trăng trong cổ tích xưa, bừng sáng như ngọn hải đăng chiếu rọi vào hiện tại và lan tỏa đến tương lai. Các tình tiết nhỏ, vụn tự chắp nối lại và sáng lên, dù đó là những tình tiết không vui, những mảnh đời còn bất hạnh, thậm chí là bóng đen của cái xấu, cái ác. Cùng với lối kết cấu ấy là một dòng chảy ngôn từ giàu chất trữ tình, sáng ngọt ngào, sáng lấp lánh trên suốt nẻo đường chồng chất nguy nan và cay đắng. Đi qua miền nhớ đạt đến sự thanh tẩy (catharsis) hoàn mỹ mà không cần sự phản tư, phản tỉnh hay một cấu trúc tân kỳ.

K. Marx từng nói, tự nhiên vẫn đẹp ngay cả khi nó sinh ra con quái vật. Tôi hiểu chị đã sống theo lẽ tự nhiên của trái tim, đẹp ngay giữa những thứ xô bồ, không đẹp đang bủa vây chị, để rồi cuối đời chị kể hết cho con cháu nghe từ chiến tranh đến hậu chiến. Tôi cảm phục chị, như điều chị chia sẻ, bình dị mà cao cả: chị đã sống cho người đã chết, ngay cả khi chọn cho mình một cái tên cũng mang nỗi đau và ước mơ của người đã chết…

Tiểu thuyết, khác với truyện ngắn, bao giờ cũng nằm trong cái nghịch lý: mạnh tiểu tiết ắt vỡ khung kịch tính của cốt truyện và ngược lại, mạnh về kịch tính ắt đóng khung giới hạn của tiểu tiết. Tiểu thuyết cuộc đời của Lệ Thu yếu về kịch tính, nhưng mạnh về tiểu tiết. Giới hạn trong gần ba trăm trang là do “sức lực” của tuổi bát tuần, tôi tin các tiểu tiết lấp lánh trên từng trang văn của chị vẫn còn có thể mở ra vô hạn.

CHÂU MINH HÙNG

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Từ trong con chữ nghe hồn rạ rơm

“Đảnh lễ mùa màng” gói gắm những vẻ đẹp nhỏ nhoi của quê hương mà Nhiên Đăng nặng lòng lưu giữ, cất lên thứ ngôn ngữ mộc mạc của cánh đồng mà ngân đọng bề sâu xúc cảm

Tổ quốc không mất tên Anh…

Trong những ngày tháng Bảy ân tình này, chiến dịch 500 ngày đêm là đỉnh cao chạy đua với thời gian của toàn quốc nhằm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trên chiến trường trong và ngoài nước…

Dấu chấm than gửi vào ánh trăng và màn sương trắng

Lịch sử đi qua đời người bằng những dấu mốc, những biến động, những được mất và cả phán xét của hậu thế. Nhưng khi vào thơ, lịch sử không còn chỉ là những trang kể lại. Nó thành ký ức, thành thân phận…

Phía sau cổng trời bình yên…

Tập truyện ký được kết cấu thành chín chương, mở đầu bằng chương “Cô gái mất tích sau Tết” như một nút thắt gợi tò mò dẫn người đọc bước vào ngôi làng Kret Krot…