Chén thu chuốc mềm lòng thi sĩ

(VNGL – Thơ và lời bình). Cuộc sống con người luôn gắn kết thiết thân với môi trường sống, với thiên nhiên, với các yếu tố địa lý, khí hậu… Những nắng, mưa, mây, gió, trăng sao; những ấm lạnh, cực đoan khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu; tuần tự bốn mùa cùng những biến thể cứ lặp lại trên mỗi lớn lên, già đi của con người như ký ức hằn sâu, và thường đọng đầy cảm xúc, sự mong chờ hay tiếc nhớ.

Giới thi sĩ đa cảm, tâm hồn luôn xao động trước mỗi biến chuyển của đất trời. Thật dễ hiểu khi cái ăng-ten thính nhạy của họ bắt sóng mỗi khoảnh khắc giao mùa; và trong bốn mùa, mùa thu với cái mơ màng nắng gió sương khói, cùng hình ảnh lá vàng rơi sống động gợi cảm giác ly biệt, là mùa vào thơ nhiều nhất. Thật nhiều vẻ đẹp thu đầy ám ảnh trong thơ, nhạc: “Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông” (Bích Khê). “Dừng chân bên một quả đồi/ Gỡ từng ngọn cỏ, tôi ngồi nhìn thu” (Tế Hanh). “Phương trời mình đi xa thêm xa/ Nghe vàng mùa thu sau lưng ta/ Em ơi, em ơi, thu thiết tha” (lời bài hát Tình lỡ của Thanh Bình)… Có hình họa tuyệt mỹ từ sắc vàng thu, nỗi buồn thu, sự choáng ngợp không gian cảm xúc “thu mênh mông”, “thu thiết tha”, cứ day dưa, ám gợi. Và có cách diễn tả xuất thần “tôi ngồi nhìn thu”: thu đã thành một hình hài cụ thể!

Hình hài thu, với Mùa thu mong manh của Nguyễn Hữu Quý, lạ lùng sao, vừa cụ thể vừa mơ màng, hư thực. Gọi tên “mùa thu mong manh”, nhà thơ đã tìm thấy nguồn cảm hứng chủ đạo, là khởi nguồn mà cũng là mạch khai triển tha hồ tung tẩy.

Chất liệu làm nên mùa thu ở đây cũng khá quen thuộc: nắng, gió, màn sương khói, tiếng dế rả rích đêm trăng, bông cúc mùa thu…, và hẳn nhiên, bao trùm lên tất cả là cái mơ màng sầu tư – một nòi tình thi sĩ.

Bài thơ bắt đầu như nguyên nhân nó được hình thành, được viết ra – bằng lý do rất khơi gợi: lời em nói. Vâng, “đã quên lời em nói” (có thể là lời cảnh báo, nhắc nhở chăng?) và câu chuyện thu hình thành.

Có thật thế chăng mùa thu mong manh
Nắng dễ vỡ và gió ưa hờn dỗi
Chén thu chuốc, tôi quên lời em nói
Đành nhặt hanh hao vun lại dưới góc sầu.

Chẳng biết “lời em nói” thế nào nhưng rõ rành lý do “quên” không thể độc đáo hơn: Vì “chén thu chuốc”. Từ đây, từ cái chén thu ma mị, quyến rũ này đã dẫn dắt nhà thơ đắm mình vào mọi cung bậc thu khôn cưỡng.

Màn khói hư vô lạc lõng nẻo trần
Tôi cũng vậy, qua bầu trăng, ngưng thở
Cái chết mùa thu gần như con dế nhỏ
Ra rả cung sương bàng bạc giữa đàn trời.

Các diễn tả “ngưng thở”, “cái chết mùa thu” như những cảm thấu bật ra – một hiển nhiên từ trạng huống tột đích mà “chén thu” tạo nên: chắc hẳn con người đã tự nguyện “uống” chén mê hoặc này. Màn sương trăng huyền diệu, tiếng dế rả rích say sương như hoan khúc ngập tràn mà xa vẳng, một đắm say của sự vật hòa cùng con người trong ngưng lặng thần thánh của cảm xúc.

Chừng như các yếu tố thiên nhiên thu, dù hư thực, huyền ảo, vẫn chưa là chén thu tuyệt đích: bài thơ bất ngờ chuyển hóa sang một sự phân thân đầy kịch tính:

Có canh thu tôi bước ra khỏi tôi
Gặp bông cúc trên ngực trần vũ hội
Tôi bước lại vào tôi và chết thèm tiếng nói
Tôi chết thèm ai đó, hỡi ai!

“Bước ra khỏi tôi” là ra khỏi cái lề luật, khuôn thước quy ước vốn tạo nên trật tự sống, cái trật tự này thực chất kiềm hãm những ham muốn, dục vọng con người. Khi ra khỏi cái tôi lề luật ấy, lập tức mọi thứ bắt đầu mở ra cuộc mê hoan con người vốn ước ao. Bông cúc đã không còn là hoa của mùa thu, nó hiện diện trong vũ điệu hoan lạc, khơi gợi. Và như mọi giấc mơ đẹp thường dang dở: việc “bước lại vào tôi” để “chết thèm tiếng nói”, “chết thèm ai đó”…, là cái kết tất yếu.

“Chén thu chuốc” đủ say, đủ thăng hoa để cảm xúc tha hồ tung tẩy, nhưng hoan khúc chỉ đạt đến tuyệt đích trong dang dở, nuối tiếc. Đó là bí ẩn của hồn, của thơ.

Nhưng con người ít khi thừa nhận cái mỏng mảnh của mình mà lại viện dẫn nguyên do từ “bí ẩn vòm thu”, từ “mùa thu chập chờn quỷ dữ” và con người chỉ “quá mềm lòng”. Bài thơ khép lại như nó bắt đầu: chuyện “quên lời em nói”. Một câu-chuyện-thu quá sức hoàn hảo về cảm xúc!

Đại tá, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, nguyên Trưởng ban thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội, là nhà thơ tên tuổi trên văn đàn. Nói đến Nguyễn Hữu Quý bạn đọc thường nhớ trang viết về Trường Sơn, về thương binh, liệt sĩ, về những bà mẹ của đất nước – mảng thơ ông nhiều thành công, đoạt nhiều giải thưởng. Bài thơ Mùa thu mong manh là một chất thơ khác, một góc hồn riêng đắm đuối thi sĩ của ông.

Có một hình ảnh thơ về mùa thu tiền nhân đã viết nhiều, viết hay, là lá vàng rơi, tuyệt nhiên không có trong bài thơ này. Nguyễn Hữu Quý né sự sáo mòn chăng? Tôi nghĩ không phải. Thì bông cúc, cái hanh hao mơ màng nắng gió, sương khói hư thực, tiếng dế ra rả đêm trăng…, xưa nay nhiều người cũng đã viết, ông vẫn viết hay đấy thôi. Thực ra, mọi dàn dựng như câu chuyện thu về chén thu chuốc, về lời em nói, về vũ hội thu…, là những ngẫu hứng xuất thần, nó hiện diện như trong cơn mê miên, đắm đuối của cảm xúc. Các ngẫu cảm này và những thành tố thu khác đã xuất hiện như nó phải thế.

Bài thơ không phải là những quan sát bằng mắt, bằng trí, mà là một tâm cảm toàn bích!

Mùa thu mong manh là một bài thơ lạ không chỉ của Nguyễn Hữu Quý. Nó góp một tiếng thu diễm ảo, đắm đuối vào trang thu đất nước.

Mùa thu mong manh

NGUYỄN HỮU QUÝ

Có thật thế chăng mùa thu mong manh
Nắng dễ vỡ và gió ưa hờn dỗi
Chén thu chuốc, tôi quên lời em nói
Đành nhặt hanh hao vun lại dưới góc sầu.

Màn khói hư vô lạc lõng nẻo trần
Tôi cũng vậy, qua bầu trăng, ngưng thở
Cái chết mùa thu gần như con dế nhỏ
Ra rả cung sương bàng bạc giữa đàn trời.

Có canh thu tôi bước ra khỏi tôi
Gặp bông cúc trên ngực trần vũ hội
Tôi bước lại vào tôi và chết thèm tiếng nói
Tôi chết thèm ai đó, hỡi ai!

Tôi nguyện cầu sau từng cơn mộng mị
Lòng bồn chồn trước bí ẩn vòm thu
Cái mùa thu chập chờn quỷ dữ
Mà em ơi, tôi lại quá mềm lòng.

Cái mùa thu có có, không không
Bởi áo tím bay vào miền tiếc nuối
Giá như tôi đừng quên lời em nói
Có lẽ bây giờ thu đã bớt mong manh!

LÊ HOÀI LƯƠNG

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Nương tiếng bạn tìm màu ban sơ…

Thơ Phạm Văn Phương không cầu kỳ kỹ thuật. Chúng chân thật đến mức có thể bắt gặp ở đó hơi thở của một người đàn ông luôn sống với ký ức, trung thực với cảm xúc của chính mình…

Hơi thở của sự lặng im…

Từ bông hoa đã lụi tàn – bằng một cách chậm rãi, nhà thơ kể cho chúng ta nghe một câu chuyện, một dạng cấu trúc tự sự, có khởi đầu, vận động, và kết thúc..