(VNGL – Nghiên cứu & Phê bình). Trong một bài thơ của mình, nhà thơ Thanh Thảo viết: “Tôi đặt tên tôi là cỏ”. Bút danh ấy đã đi cùng ông hơn nửa thế kỷ nay.
Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công sinh năm 1946 tại Mộ Đức. Theo ông thì cái tên ấy gắn với một kỷ niệm của cha ông – nhà cách mạng lão thành Hồ Thiết, để ghi nhớ ngày cách mạng tháng Tám thành công. “Tôi đặt tên tôi là cỏ/ Mọc phất phơ mọc vớ vẩn ngoài đồng/ Mọc trên mộ các anh/ Tràn qua những bia đá lạnh lẽo”. Có lần tôi đã nghĩ sai về hàm nghĩa của tác giả qua những câu thơ này. Cho đến khi tình cờ đọc một bài báo ông viết nhân “Ngày Thơ” của một năm nào đó, Thanh Thảo đã vỡ vạc cho tôi hiểu rằng “… Mọc trên mộ các anh/ Tràn qua những bia đá lạnh lẽo” không phải như tôi đã nghĩ.
Sự đa nghĩa, nhiều chiều kích, nhiều vỉa tầng là một đặc thù trong thơ Thanh Thảo. Thơ ông đọc không dễ vào, dĩ nhiên là khó thuộc nhưng khi đã bắt được “sóng” rồi thì ta như người đi trong rừng, bất chợt nghe một âm thanh lạ, hoặc thoảng một mùi hương quyến rũ, cứ mải miết tìm, rồi cuối cùng là gặp một thăm thẳm mênh mang. Thanh Thảo là thế, mãi mãi bất ngờ, “mãi mãi là bí mật”- như tên một tập tiểu luận của ông được xuất bản nhiều năm trước.

Thời trai trẻ, Thanh Thảo có một khát vọng không giống ai. Đó là xin được đi B để… làm thơ. Vì vậy, khát vọng vượt Trường Sơn luôn thiêu đốt con người ông, mặc dù với “tiêu chuẩn” như Thanh Thảo thời ấy, nơi ông đến phải là một nước xã hội chủ nghĩa nào đó để du học chứ không phải là chỗ chiến trường đầy bất trắc. Ông là đứa con độc nhất trong một gia đình mà bố ông là cán bộ lão thành cách mạng. Năm Thanh Thảo đi Trường Sơn (1970) thì cha ông đã 70 tuổi, mẹ ông cũng đã gần 60. Dứt áo ra đi trong một hoàn cảnh cha mẹ già như thế, hẳn là phải có một khát vọng gì đó lớn lao cùng với một quyết tâm ghê gớm chứ không phải là chuyện bồng bột đơn thuần của tuổi trẻ nông nổi.
(Bài ca ống cóng)
Đào thải là quy luật của tự nhiên, nhưng với Thanh Thảo, ông muốn chính ông và thế hệ của mình phải là người đưa tiễn “những tráng ca thuở trước” ra nghĩa địa văn chương!
Không phải ngẫu nhiên mà Chế Lan Viên đã coi tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo – một cái tên hãy còn lạ lẫm với giới cầm bút Hà Nội bấy giờ, như những viên ngọc đầy sắc màu mới lạ khi ông nhận được bản thảo còn nguyên mùi thuốc súng từ chiến trường gửi ra. Và Chế Lan Viên đã đăng trên Tạp chí Tác phẩm mới do ông làm Thư ký tòa soạn một lúc đến 14 bài thơ của Thanh Thảo.

Nếu ví Phạm Tiến Duật như người mở đầu cho một lớp nhà thơ đầy tài năng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ thì Thanh Thảo là người đã khép lại cánh cửa thơ đông vui mà cho đến hôm nay, giới văn chương cũng không lý giải hết vì sao lại có một lớp nhà thơ tài năng nở rộ đến thế.
Tôi đã đọc khá nhiều thơ của thế hệ chống Mỹ nhưng chưa bắt gặp câu thơ nào mà “tỉnh” như thế này:
(Thử nói về hạnh phúc)
Đi Trường Sơn với một tâm thế đầy ý thức như vậy, hoàn toàn không phải nghe theo lời phủ dụ của một ai cả, Thanh Thảo đã làm bung vỡ những quy củ mang tính khuôn thước mà không ít nhà thơ thời ấy mắc phải, cả về mặt hình thức lẫn nội dung thơ. Bởi thế, ông là nhà thơ nhất quán, từ lúc mới cầm bút cho đến hôm nay, đất nước đã trải qua biết bao biến động, nhiều giá trị cứ ngỡ bất biến, nay đã lộn tùng phèo nhưng Thanh Thảo vẫn vậy, khó mà “soi mói” ở ông được điều gì về tính cơ hội trong thơ, bởi ông đã lấy nhân dân làm điểm tựa suốt đời cho thơ mình. Từ trường ca “Những người đi tới biển”- mở đầu cho loạt trường ca của ông – cho đến trường ca thứ 17 viết về Lê Văn Duyệt vừa hoàn thành, nhân dân vẫn là “nhân vật chính” của Thanh Thảo. Họ là những người chịu thương chịu khó, luôn ẩn mình trong những công việc hàng ngày, thường bị khuất lấp sau ánh hào quang của những chiến công, nhưng mỗi khi đất nước lâm nguy bởi giặc ngoại xâm, mỗi khi đất nước gian nan bởi giặc trong nhà, nhân dân lại là người khơi nguồn cho mọi cuộc dậy sóng. Thanh Thảo đã viết nhiều chương trong các trường ca của mình về sự “dậy sóng” đó của nhân dân bằng tất cả năng lượng tin yêu của một nhà thơ luôn coi nhân dân như là một thứ quyền năng tối thượng dù trong tay họ chỉ có cuốc với cày.
Thanh Thảo từng sở hữu hai quỹ từ thiện. Một cái là quỹ mổ tim cho trẻ em Quảng Ngãi, cái còn lại là giúp cho những học sinh nghèo ở Sơn Mỹ. Hàng chục đứa trẻ bị tim bẩm sinh đã thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, dù vẫn biết, để cứu một đứa trẻ đau tim thì một nhà hảo tâm hay một doanh nghiệp nào đó cũng “thót tim” với Thanh Thảo khi ông đặt vấn đề xin tiền. Khép lại quỹ mổ tim này là một kết thúc có hậu: Mổ tim cho vận động viên marathon Phạm Thị Bình, giúp cô này vô địch chạy marathon ở kỳ SEA Games 27 năm 2013 tại Myanmar.
Còn quỹ học bổng cho trẻ em Sơn Mỹ thì năm 2026 này là năm thứ 29. Hàng chục triệu mỗi năm, ông đã giúp cho nhiều học sinh nghèo vùng quê này có động lực để tiếp tục con đường học vấn của mình. Riêng tiền cho quỹ này được ông trích ra từ tiền nhuận bút hàng năm của ông. Lúc nào ghé nhà ông cũng thấy ông cặm cụi làm việc. Những đồng nhuận bút còm được ông tích góp lại để làm việc nghĩa, có lẽ trong số các nhà văn, chỉ có Thanh Thảo mới làm được điều này. Có lần tôi góp ý là làm việc ít lại và thôi làm từ thiện vì tuổi cao sức yếu rồi, ông trả lời rằng, ông có niềm vui và hạnh phúc khi được cho đi mà của cho ấy lại lấy từ việc lao động viết báo hàng ngày của mình.
Ngoài Thanh Thảo thơ, Thanh Thảo làm từ thiện còn có “Thanh Thảo báo” nữa. Ba con người trong một con người mà con người ở lĩnh vực nào cũng hoàn thành một cách xuất sắc.
Ở tuổi 80 nhưng hàng ngày Thanh Thảo vẫn luôn đối diện với màn hình vi tính, vẫn lao động miệt mài với con chữ, lúc thì làm thơ, khi thì viết báo. Trường ca viết về Lê Văn Duyệt vừa hoàn thành ở tuổi 80 là tập trường ca thứ 17 của Thanh Thảo, đây được xem như một kỷ lục khó có nhà thơ nào của Việt Nam đạt tới. Còn với báo, ông xem như người bạn đồng hành cùng ông mỗi ngày. Ngoài việc kiếm thêm thu nhập từ việc lao động chữ nghĩa cực khổ này, số tiền kiếm được từ viết báo, ông còn dành dụm cho các cháu học sinh Sơn Mỹ. Bấy nhiêu đó đủ để Thanh Thảo chiếm trọn vẹn trong lòng bạn yêu thơ cả nước và những em học sinh nơi làng quê Sơn Mỹ.



