Bông trang đỏ – hương thơm từ kỷ niệm

(VNGL – Đọc sách). (Đọc Bông trang đỏ, tập truyện của Nguyễn Đặng Thùy Trang, NXB Hội Nhà văn, 2025)

Bông trang đỏ là tập truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Đặng Thùy Trang, ra mắt vào cuối năm 2025. Gồm mười ba truyện ngắn, cuốn sách mở ra một thế giới giàu cảm xúc, được kiến tạo trong lối viết hiện đại. Là một giáo viên trẻ mang trong mình tình yêu say đắm với văn chương và có một tâm hồn nhạy cảm trước những dịch chuyển của đời sống, Thùy Trang đã gửi vào trang viết những nỗi niềm thầm kín cùng những ước mơ trong trẻo nhất của mình. Khi viết trở thành nhu cầu nội tại của đời sống tinh thần, ngôn từ ở chị đi theo một mạch xúc cảm tự nhiên. Mười ba truyện ngắn vì thế hiện lên như mười ba giai điệu không lời, nhẹ nhàng và du dương, hòa vào thanh âm của sóng và gió nơi một thành phố biển nhỏ bé, mộc mạc và chân thành.

“Kỷ niệm không nằm trong thời gian mà thời gian nằm trong kỷ niệm” (Marcel Proust), trong Bông trang đỏ, thời gian hiện ra như một chất lỏng thẩm thấu vào miền ký ức: khi co dồn trong một khoảnh khắc, khi lại chảy miên man theo dòng xúc cảm không dứt. Bước vào thế giới truyện của Nguyễn Đặng Thùy Trang, ngọn gió thổi ngang qua vai cũng mang linh hồn, đủ sức kéo con người trôi tuột về miền nhớ xa xăm. Gió trở thành một ẩn dụ bền bỉ cho tình yêu – thứ tình yêu từng được ôm ấp, nâng niu và chỉ có thể tồn tại trong hoài niệm. Đó là hơi thở của hàng cây, của ánh nắng, của con đường…, khiến mọi ngóc ngách của vùng đất đều thấm đẫm dấu vết ký ức, còn ngân lên trong nỗi hoài vọng không tên: “Gió đã thổi qua tất cả. Những tháng ngày buồn vui và những trông chờ”. Nhưng có lẽ, tình yêu đẹp nhất là tình yêu không bao giờ ở lại hay chỉ tồn tại trong khoảnh khắc, tác giả chọn cách kiến tạo cho mình một giấc mơ, nơi mà nàng có thể giữ mãi cơn gió yêu đương bên lòng: “Khi nàng buồn ngủ, dưới một tán cây, bên một bờ biển, nàng đã buông bỏ thân phận mình để tìm về cõi vô định. Vậy là nàng đã là một cơn gió trong mơ… Ta không có quyền ở đó, giấc mơ của nàng là cõi thanh khiết, một cõi riêng vô tận. Ta có thể làm gì với một trái tim đang ngủ quên và bình yên. Tốt nhất là ta không nên làm gì cả” (Người đi nghe gió). Tự do là khoảng cách, nàng và tình yêu có lẽ mãi là một cuộc rong ruổi kiếm tìm vì khoảng cách trong tình yêu là sợi dây nối liền bầu trời với mặt đất – Tagore. Cô đơn trong tình yêu, con người khao khát tìm về cố hương như nơi neo trú sau cùng, nàng trôi qua đền đài ký ức để kiếm tìm nhưng làm sao biết cố hương của cơn gió đến từ đâu? Và rồi nàng nhận ra: “Tất cả đều là nơi ta đi qua. Tất cả đều có thể là cố hương”. Sự vô phương trong mênh mông bất định đôi khi lại làm con người nhận ra đúng nơi mình thuộc về. Cố hương, suy cho cùng, là nơi ta đã từng gieo trồng kỷ niệm. Ý thức này cũng tạo nên không khí mơ hồ, mộng ảo bao trùm phần lớn các truyện ngắn trong tập của Nguyễn Đặng Thùy Trang.

Trong truyện Thời gian không ở phía trước, tác giả đã tìm thấy điểm tựa cho chính mình từ hướng nhìn về quá khứ, thời gian là vòng xoáy vô hạn của chuỗi trải nghiệm và ảnh hình ký ức đồng hiện. Những người yêu đã từng, cuộc hẹn dở dang, một người đã mất đều như cùng sống chung với “tôi” mỗi ngày qua những mong đợi, nhớ thương, tan vỡ rồi gượng dậy tự mình.“Em nghĩ đến anh trong những lần sáng tạo. Những con phố của chúng mình, đầy hơi biển. Em đứng trên biển. Cô đơn không nói được. Đứng lên rồi ngồi xuống. Đường biển dài gì đâu… Thật đến độ, chẳng còn cách nào, bấm số gọi điện cho người yêu cũ”. Tưởng chừng nhân vật sẽ tìm cách kết nối với hiện tại, nhưng không. Những xao động, bâng khuâng hiện lên trong tưởng tượng đã đủ để nàng hiểu rằng: “Tôi biết cuộc đời mình đã dừng lại một điểm, thuộc về một điểm vĩnh viễn… nhưng sẽ không lặp lại được nữa”. Thật bất ngờ và can đảm, nàng đã quyết định: “không bấm máy”. Nàng ôm giữ kỷ niệm để sưởi ấm, chữa lành trái tim, hoài nhớ không phải là tìm cách để quay lại mà là cách để sống tiếp cùng cõi riêng sáng tạo.

Hay trong truyện ngắn Người đàn bà bên bờ biển, tác giả đặt nhân vật vào một bi kịch cô đơn kéo dài suốt đời người. Đó là một người phụ nữ không chồng, không con, sống trọn vẹn với ký ức của một mối tình đã khuất và mòn mỏi đợi chờ một lá thư viết cho mình. Thế nhưng, đến cuối đời, bà chợt nhận ra rằng suốt gần ba thập kỷ, chưa từng có ai gửi đến bà một dòng chữ yêu thương. Trong nỗi trống trải cùng cực ấy, bà thuê một chàng trai trẻ viết thư cho mình, như một sự an ủi tinh thần mong manh, một ảo ảnh tạm bợ của tình yêu. Tình huống truyện mở ra một bi kịch hun hút của phận người, khi điều đáng sợ nhất với trái tim không phải là sự tan vỡ của tình yêu, mà là việc mình không còn tồn tại trong ký ức của bất kỳ ai. Kết nối của người đàn bà với chàng trai lạ thật kỳ lạ mà cũng thật xúc động, họ biết rằng “đó là một trò chơi, cứ thế mà đi ra biển, cứ thế ngập đầu rồi quay vô”. Dẫu biết rồi tất cả sẽ tan chảy và biến mất như cát trong lòng bàn tay, người đàn bà vẫn ngóng đợi: “Tôi chẳng biết làm gì ngoài chờ thư và đợi một người giao hàng… Tôi trở thành một người chờ đợi. Tôi trông chờ buổi chiều hơn là thứ gì khác… Chiều nối vào đêm, đêm mát, thoáng đãng, mênh mông”. Bà trở thành một bài thơ chờ người thấu hiểu. Còn chàng trai trẻ đang cuống cuồng trong cuộc mưu sinh bỗng nhiên dừng lại quan sát:“Ngắm nhìn người đàn bà… thấy bà như trẻ lại”. Đôi khi anh“Chạy trốn người đàn bà như chạy trốn chính mình, sống bằng tiền tạo nên từ sự tưởng tượng”. Người đàn bà càng lúc buồn ngủ càng nhiều, dần dần quên hết, chỉ còn nhớ những bức thư của anh viết và cuối cùng “bà bay như chim sẻ từ tầng cao nhất của khu tập thể cũ”. Hải – nhân vật chàng trai, cũng đã ra đi khi bà bị bệnh. Hải viết thư vì được thuê nhưng sâu thẳm nơi anh có lẽ đã viết vì lòng trắc ẩn hay vì chính anh cũng được an ủi trong những câu từ tưởng tượng. Sự kết nối của họ ngắn ngủi nhưng bay bổng như điệp khúc trong giai điệu của tình người, như lời chim tiếng ca mà hòa vào gió trời. Và như thế, kỷ niệm đã tỏa hương trong cuộc đời nhiều trống trải, quạnh hiu.

Trong Bông trang đỏ, phần lớn các truyện được kiến tạo theo kết cấu phi tuyến tính, vận hành bằng ký ức và cảm giác. Nhân vật được nội tâm hóa, ít hành động, để dòng tâm tư chảy trôi tự do, qua đó làm bật lên vẻ đẹp mong manh của tình yêu và của một trái tim luôn cựa thức, vang lên thanh âm riêng. Vì thế, khi câu chuyện khép lại, dư âm dịu dàng vẫn còn ngân mãi. Thiên nhiên, đồ vật, cảnh quan… hiện diện như những tấm gương phản chiếu tâm trạng; mỗi không gian đều mang một linh hồn, lưu giữ kỷ niệm bằng vẻ đẹp riêng. Ngôn ngữ truyện giàu chất thơ, được kết đọng từ sự quan sát lặng lẽ qua năm tháng, để mọi buồn vui, tổn thương hay hạnh phúc đều trở thành hơi ấm nâng đỡ tâm hồn trước những chông chênh của đời sống.

Nguyễn Đặng Thùy Trang là tác giả đã trưởng thành và vững vàng với lối viết truyện ngắn mang dấu ấn dòng ý thức. Bông trang đỏ là tập truyện thứ hai sau Bay, tiếp tục khẳng định phong vị riêng của chị. Con đường sáng tác phía trước còn dài, và những trang viết của chị hẳn sẽ tiếp tục lớn lên cùng những chiêm nghiệm ngày một sâu dày tích lũy.

Nguyễn Đặng Thùy Trang sinh năm 1993, hiện sống tại Gia Lai, là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai. Chị đã xuất bản: Bông trang đỏ (tập truyện ngắn, 2025), Bay (tập truyện ngắn, 2019), Xương cá biết nói (tập truyện thiếu nhi, 2020), Ký tự nàng (thơ – in chung với My Tiên), Đậu Đậu, Sâu Sâu và Be Bé (Truyện thiếu nhi – in chung với Mộc An) và thơ in chung các tuyển tập; Giải thưởng tác giả Trẻ của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; Giải thưởng Cuộc thi sáng tác văn học tỉnh Bình Định; Giải thưởng Đào Tấn – Xuân Diệu dành cho VHNT tỉnh Bình Định lần thứ VI (2015 – 2020).

MY TIÊN

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Nhịp vó không hóa đá

Trong một số tác phẩm, ngựa xuất hiện trong bối cảnh nghi lễ. Ở Trà Kiệu, ngựa đi cùng đoàn người của hoàng tử Rama trong trích đoạn Ramayana…

Màu của văn hóa

Không cụ thể một định danh, tên sách chỉ khơi gợi. Bìa sách ẩn hiện một chóe rượu, men gốm quen thuộc sắc độ trầm…

Đầu xuân đọc “Lời hạ du sông hát”

Thơ Châu Thường Vinh không quá chú trọng vào việc thiết kế cấu tứ hay cách tân hình thức, cũng không câu nệ ở việc trau chuốt từ ngữ; ông lựa chọn cách thủ thỉ, giãi bày bằng ngôn từ mộc mạc…