(VNGL – Văn học trong nhà trường). Trong thần thoại Hy Lạp, thần Prô-mê-tê vì đánh cắp lửa cho nhân gian mà đắc tội với Thượng Đế, thần chịu hình phạt bị xiềng xích dưới chân núi đá, chịu cơn đau rỉa gan của đại bàng. Từ khi có lửa, loài người đã phần nào chế ngự được bóng tối của đất trời, đã không còn sợ hãi thú hoang nhưng bóng tối trong tâm hồn thì khó lòng chế ngự nổi. Trái tim Đan-kô một truyện ngắn rút trong tập truyện Bà lão I-déc-ghin của Maxim Gorky (Sách giáo khoa Ngữ Văn Cánh Diều 11 tập 2) mang đến một ngọn lửa khác, ngọn lửa của trí tuệ và tình thương cao cả dẫn bước con người chạm đến sự tự do. Thế nhưng, chính ngọn lửa ấy lại mang trong mình một bi kịch sâu sắc – bi kịch bị ruồng bỏ bởi chính điều mà nó soi sáng.
Truyện bắt đầu với hình ảnh đoàn người bị xua đuổi vào “một khu rừng rậm chỉ có đầm lầy và bóng tối, cành lá quấn quýt dày đặc đến nỗi không còn nhìn thấy bầu trời nữa… những tia sáng khó khăn lắm mới lọt qua đám lá um tùm để rọi xuống mặt nước thì mùi hôi thối bốc lên đến nỗi họ phải lăn ra chết”. Hình ảnh khu rừng là một ẩn dụ tượng trưng cho hoàn cảnh sống tăm tối, bế tắc, đầy rẫy hiểm nguy và cái chết luôn cận kề. Đó là không gian giam cầm tinh thần con người trong hoang mang, âu lo và tuyệt vọng. Đoàn người bị dồn đẩy từ không gian vật lý đến không gian tinh thần, tự hủy bằng sự lụn bại, kiệt dần ý chí: “không có gì làm suy mòn thể xác và tâm hồn người ta bằng những ý nghĩ buồn rầu. Người ta yếu đi vì lo nghĩ… nỗi khiếp sợ làm tê liệt những cánh tay rắn chắc của họ”. Và như thế, con người rơi vào tình thế cam go buộc phải lựa chọn giữa hai con đường: cam chịu nô lệ hoặc kiếm tìm lối thoát. Tuy nhiên, sự hèn nhát, nỗi sợ hãi luôn nảy sinh và lây nhiễm cực nhanh trong đám đông,“tiếng khóc và cái chết khiến họ không còn sợ sống nô lệ nữa”.
Ngọn lửa Đan-kô xuất hiện ở thời khắc ấy, một chàng thanh niên trẻ trung, đẹp đẽ bước lên với “ánh mắt sáng ngời ánh lửa sôi nổi và nhiệt huyết” thắp lên hy vọng giữa bóng tối thâm u: “Hãy đứng lên, đi xuyên vào rừng, rừng cũng có chỗ kết thúc, mọi cái trên đời đều có chỗ kết thúc”. Đan-kô – một người xuất chúng duy nhất có trái tim yêu thương cao cả và không sợ hãi trước cái chết đã đánh thức bản năng sinh tồn trong mỗi con người. Họ đứng dậy, nhất loạt tin tưởng và đi theo anh như vừa được ban cho ánh sáng Khải Huyền.
Nhưng hành trình nào cũng đầy gian khổ: “Rồi một hôm, dông bão gầm thét trên rừng, cây cối ồn ào ghê rợn… bao nhiêu đêm tối trên đời từ khi có rừng đều tụ cả lại… cây cối nom như những vật sống đang dang rộng những cánh tay dài ngoằn, đan thành một mạng lưới dày cố ngăn chặn họ, trong đám lá tối tăm, có cái gì đáng sợ, u ám, lạnh lẽo, hắc ám nhìn đám người đang đi”. Bao quanh ngọn lửa là thế lực hắc ám, là những thử thách sống còn của số phận. Đoàn người, một tập hợp của sự phẫn nộ và tiêu cực, Victor Hugo từng miêu tả về đám đông này trong Nhà thờ Đức Bà Paris bằng hình ảnh “đám dầu thô đen ngòm tràn ra từ các con hẻm”, khi đối mặt với khó khăn, nỗi sợ hãi và sự yếu hèn lại trỗi dậy khiến họ một lần nữa trở nên mù lòa. Họ điên tiết, dữ tợn kết tội Đanko “- Mi là kẻ hèn mọn làm hại chúng tao, mi dẫn chúng tao đi và làm chúng tao kiệt lực. Vậy mi phải chết”. Họ căm thù chính người đang hy sinh cho họ, “đoàn người biến thành bầy sói hung ác muốn lao đến xé xác người dẫn đường”. Với hình ảnh ấy, Maxim Gorky đã khái quát được bản chất đám đông: hung ác và dễ bị kích động theo chiều hướng tiêu cực nhất. Ngay lúc ấy, Đan-kô hiểu rằng, nếu không giữ vững sự bình tĩnh, hành trình của anh sẽ trở nên vô nghĩa và đoàn người sẽ chết hết trong rừng sâu. Tình yêu thương trong trái tim bao la của anh lớn hơn mọi sự phẫn nộ và buồn bã, đôi mắt anh như hai ngọn đuốc sáng. “Anh xé toang lồng ngực, giơ cao trái tim rực cháy, bóng tối sợ hãi lùi xa, bầy sói sợ lửa chợt bừng tỉnh, cúi đầu ngoan ngoãn”. Họ trở lại là bầy chiên ngoan đạo, răm rắp đi theo anh. Anh đã cho họ thấy sức mạnh vĩ đại của sự hy sinh và ngọn lửa yêu thương thuần khiết trong lý tưởng của mình. Anh thống trị họ bằng tình thương chứ không sai khiến họ bằng bạo lực. Và đó mới chính là nguồn sức mạnh thực sự khiến con người chịu khuất phục bằng cả linh hồn. Anh đưa họ trở lại với hành trình của sự giải thoát, chạm đến tự do. Trái tim Đan-kô là biểu tượng của khát vọng cao cả, quên mình vì cộng đồng, vẻ đẹp chân lý của chủ nghĩa anh hùng. Là ánh lửa nhân loại khao khát từ thuở sơ khai cho đến trùng lai mà khi thiếu vắng, thế gian sẽ ngập chìm trong bóng tối của nỗi sợ hãi và mê muội.
Tuy nhiên, trái tim Đan-kô – ngọn lửa tự thiêu để biến mình thành ánh sáng, vấp phải bi kịch của cái đẹp, cái cao cả khi đối diện với cái tầm thường. “Thảo nguyên mênh mông mở ra, ánh mặt trời rực rỡ và những ngọn gió tinh khôi từ đại dương lồng vào phổi họ, cỏ ngời sáng vì những giọt mưa và dòng sông lấp lánh ánh vàng”. Đoàn người đã được cứu sống, họ vui sướng và tràn đầy hy vọng, không ai để ý thấy: “Dưới ánh hoàng hôn, dòng sông đỏ như máu nóng hổi phụt ra từ bộ ngực rách nát của Đan-kô”. Khi nhìn thấy trái tim can đảm vẫn cháy bùng bên cạnh xác anh, “họ sợ điều không hay xảy ra, liền giẫm chân lên trái tim kiêu hãnh ấy… Trái tim tóe ra một loạt tia sáng cuối rồi tắt ngấm”. Họ chọn cách lãng quên anh để tồn tại, sự hy sinh của anh không được đền đáp và cái đẹp bị chà đạp không chút tiếc thương. Nhưng “Đan-kô bật lên tiếng cười đầy tự hào và gục xuống chết”, hành trình của anh đã chạm đến thiên đường rực rỡ, không cần đoái hoài, không cần tưởng nhớ.
Đan-kô hy sinh trong cô độc vì sự nghiệt ngã của cuộc đời nhưng trái tim xuất chúng ấy vượt lên mọi sự vô tâm và ích kỷ của con người, anh không còn tồn tại cùng với họ, anh bất tử trong tiềm thức của họ. “Ánh lửa xanh leo lét giữa thảo nguyên” còn mãi để thắp sáng một huyền thoại anh hùng. Vùng đất mênh mông ấy nuôi dưỡng tình yêu vĩ đại, chứng tích của một cuộc đời oanh liệt. Chính vẻ đẹp của sự cô độc và đau đớn ấy đã tạo nên sự ám ảnh khôn nguôi trong trái tim người đọc.
Trong tác phẩm Trái tim Đan-kô, giá trị nội dung đã được nâng lên phần nhiều nhờ những thủ pháp nghệ thuật. Bút pháp kể chuyện giàu chất huyền thoại kết hợp với sử thi đã xây dựng một nhân vật phi thường với những phẩm chất anh hùng được lý tưởng hóa. Dụ ngôn trong từng chi tiết tạo nên những biểu tượng xuyên suốt, cô đọng nội dung truyện. Hình ảnh một người thanh niên xé toang lồng ngực, giơ cao trái tim cháy sáng giữa khu rừng tăm tối vừa đẹp đẽ vừa bi thương đã tạo nên sức hút kỳ lạ. Qua lời kể của bà lão I-déc-ghin, câu chuyện hoang đường nhưng hàm chứa vô vàn giá trị nhân sinh, triết lý sống cao cả được mềm hóa thật thi vị và dễ khắc ghi.
Tác phẩm rất phù hợp giảng dạy trong chương trình phổ thông để truyền năng lượng tích cực cho học sinh, giúp các em biết trân trọng máu xương những người anh hùng đã ngã xuống, tự hào về lịch sử dân tộc. Từ đó, khơi dậy ở các em tinh thần sống tích cực, có lý tưởng và hoài bão, biết hướng tới những giá trị cao đẹp trong cuộc sống, tự mình thắp lửa soi cho chính mình.
MY TIÊN
(Giáo viên Ngữ Văn – Trung tâm GDTX- GDNN tỉnh Gia Lai)

