Dấu chấm than gửi vào ánh trăng và màn sương trắng

(VNGL – Thơ và lời bình). Lịch sử đi qua đời người bằng những dấu mốc, những biến động, những được mất và cả phán xét của hậu thế. Nhưng khi vào thơ, lịch sử không còn chỉ là những trang kể lại. Nó thành ký ức, thành thân phận, thành những câu hỏi bỏ ngỏ. Chính ở điểm giao nhau giữa sự thật lịch sử và sức tưởng tượng của thi ca, nhà thơ có thể tìm thấy một con đường riêng để đối thoại với quá khứ.

Đọc bài thơ “Khúc trăng bên Lăng Gia Long” của Trần Quang Khanh, tôi có cảm giác nhà thơ không đứng trước lăng mộ để kể về triều đại, cũng không vội đưa ra một phán quyết. Nhà thơ bằng tâm thế của người hôm nay, lắng nghe những dư âm của thời gian và đặt ra những câu hỏi để chính người đọc tiếp tục suy ngẫm.

Bài thơ mở ra bằng một không gian đêm huyền ảo, bảng lảng sương khói và ánh trăng giữa đồi thông hoang vắng, cũng là không gian của lăng Gia Long với hai chiếc mộ đá của vua và Thừa Thiên Cao hoàng hậu nằm cách nhau một gang tay:

Trăng buông mành sương mỏng

gió khua cội sứ khẽ khàng

đêm mộng mị

vỡ lòng thạch thất

Những hình ảnh: trăng, sương, gió, cội sứ, đêm… tất cả tạo nên một phông nền vừa thực vừa mộng. Không gian ấy rất phù hợp với ý đồ đưa câu chuyện tưởng đã khép vào trăm năm về cuộc đối thoại tưởng tượng. Đặc biệt, câu thơ: “khói và khói lả vào nhau”  là một hình ảnh có sức gợi mạnh. Những làn khói (là vua, là hoàng hậu) chao nghiêng, mềm rũ, quyện vào nhau trong không gian tĩnh lặng của khu di tích lăng mộ. Khói mà như sự liên tưởng về thời gian, ký ức và thân phận.

Ở cuối bài, hình tượng khói lại trở lại: “Chúng ta cũng chỉ là mong manh làn khói/ bay chưa tới Hoàng Thành”. Sự liên kết về cấu trúc này làm rõ hơn cái hữu hạn của đời người và cái mong manh của quyền lực.

Qua làn khói, Gia Long xuất hiện không như một vị vua trong sử sách mà như một linh hồn đứng trước lăng mộ của chính mình, trước quá khứ của mình và trước ánh nhìn của hậu thế. Đặc biệt, sự xuất hiện của một làn khói khác, Thừa Thiên Cao hoàng hậu, làm cho không gian bớt đi sự u tịch, tạo nên một không gian đối thoại sống động. Vua không đứng một mình để kể về mình. Giữa họ có sự gặp gỡ, khoảng cách, hồi tưởng và những điều không dễ nói thành lời. Cách tổ chức ấy khiến bài thơ giống như một sân khấu nhỏ, nơi nhân vật được nói, được đối thoại và được đặt trước những câu hỏi của thời gian…

Nhà thơ không giữ vai quan tòa, không thay hậu thế tuyên án mà chính cuộc đối thoại bỏ ngỏ đã tự vang điều phải trái.

Câu thơ: “có những vết thương/ không lành bằng ngai vàng” mở ra một tầng nghĩa sâu xa. Ngai vàng có thể đem lại quyền lực, danh vị, chiến thắng, nhưng không thể chữa lành tất cả những vết thương mà lịch sử để lại.

Và rồi:

 

“có những câu hỏi

không thể chôn theo lăng mộ

có những sai lầm

mắc kẹt giữa nhân gian”

Đây là đoạn thơ có sức nặng tư tưởng. Lăng mộ có thể khép lại một đời người, nhưng không thể khép lại những câu hỏi của lịch sử. Một nhân vật có thể đã qua đời hàng trăm năm, một triều đại có thể đã trở thành quá khứ, nhưng những câu hỏi về công-tội, được-mất, đúng-sai vẫn tiếp tục sống trong nhận thức của hậu thế. Ở đây, nhà thơ không tìm cách giải quyết thay người đọc mà làm một việc khó hơn: đặt câu hỏi và để câu hỏi tồn tại.

Câu thơ được xem như chiếc chìa khóa để đọc ra toàn bộ tác phẩm. Nhà thơ không phủ nhận lịch sử, nhưng cũng không tự nhận mình là người có quyền phán quyết cuối cùng. Thời gian sẽ tiếp tục làm công việc của nó. Hậu thế sẽ nhìn lại những gì đã xảy ra bằng những tư liệu, nhận thức và hệ giá trị của chính mình. Đây là một cách ứng xử khá tỉnh táo của người viết khi sử dụng chất liệu lịch sử. Thơ đặt lịch sử vào một vùng suy tưởng của con người. Bởi vậy, “Khúc trăng bên Lăng Gia Long” không chỉ nói về vua Gia Long. Qua Gia Long, bài thơ còn nói về cách con người hôm nay nhìn về quá khứ và là bài học về luật nhân quả để con người cảnh giác về cách mà hậu thế sẽ cư xử với những điều đã hành xử hôm nay…

Câu thơ cuối: “Như chúng ta/ nằm cách nhau một gang/ đã ngàn trùng xa thẳm…” tạo ra  sức ngân vang lớn… Đó không chỉ là khoảng cách hiện tại của vua và hoàng hậu mà còn là khoảng cách giữa những điều vua nghĩ và hậu thế đang nghĩ hôm nay.

Lịch sử thường được viết bằng những gì đã xảy ra. Thơ lại có khả năng nói về những gì còn lại. Tác giả bài thơ có thể đã đứng trước lăng mộ, nhưng dường như không chỉ nhìn vào lăng mà nhìn vào thời gian và nhân thế để ngẫm về một vương triều. Có lẽ đó chính là giá trị đáng quý của thơ. Và “Khúc trăng bên Lăng Gia Long” vì thế đâu chỉ là một bài thơ viết về một nhân vật lịch sử. Đó còn là một cuộc trở về với quá khứ bằng tâm thế của con người hôm nay, nơi ánh trăng, làn khói, những vết thương, những câu hỏi và sự phán xét của hậu thế cùng tồn tại trong một không gian thi ca giàu suy tưởng.

Và khi trăng đã xuống, khói đã nhòa, người đọc vẫn còn đứng lại trước một câu hỏi chưa khép.

Tình Giang, 27 tháng 7 năm 2026

Khúc trăng bên Lăng Gia Long

Trăng buông mành sương mỏng
gió khua cội sứ khẽ khàng
đêm mộng mị
vỡ lòng thạch thất
khói và khói lả vào nhau.

Bốn mươi hai ngọn đồi nghiêm ngắn
núi Đại Thiên Thọ cúi đầu
hoàng bào vương bụi
nhật bình phủ sương.

Hãy ngồi xuống đây
như ngày xưa
cùng lênh đênh góc bể
như ngày xưa
mật đắng nơi đầu lưỡi
lưng tứa máu gai
rách toác chân trời.

Hậu còn nhớ không?
sau cuộc tàn khốc
sau bi phẫn tột cùng
ta bước ra
từ bể máu.

Hai mươi lăm năm
truy cùng
đuổi tận
trái tim dày vết xước
vì Hậu mà không thành đá cuội

Trẫm gánh chín đời tiên chúa
dựng lại non sông
đất nước này
từng là của Trẫm
muôn dân kia
từng là của Trẫm…

Mà sao
đầu còn ong ong câu hỏi cũ
“ai rước voi…?”
tai còn nỉ non
tiếng khóc những oan hồn…

Bốn mươi hai ngọn đồi
ri rỉ
ri rỉ trong đêm…
Bệ hạ ơi,
đất nước còn đây
muôn dân còn đấy
mà Người
cũng chỉ là mong manh làn khói
bay chưa tới Hoàng Thành

Bệ hạ ơi,
có những vết thương
không lành bằng ngai vàng
có những câu hỏi
không thể chôn theo lăng mộ
có những sai lầm
mắc kẹt giữa nhân gian.

Như chúng ta
nằm cách nhau một gang
đã ngàn trùng xa thẳm…

TRẦN QUANG KHANH

(Văn nghệ Gia Lai số 07, tháng 4.2026)

LÊ BÁ DUY

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Phía sau cổng trời bình yên…

Tập truyện ký được kết cấu thành chín chương, mở đầu bằng chương “Cô gái mất tích sau Tết” như một nút thắt gợi tò mò dẫn người đọc bước vào ngôi làng Kret Krot…

Người đặt tên mình là cỏ

Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công sinh năm 1946 tại Mộ Đức. Theo ông thì cái tên ấy gắn với một kỷ niệm của cha ông – nhà cách mạng lão thành Hồ Thiết, để ghi nhớ ngày cách mạng tháng Tám thành công…

Một khảo cứu về họa sĩ Hồng Cao

Khác với nhiều huynh đệ lựa chọn con đường quan lộ, Hồng Cao sớm bộc lộ năng khiếu và dành trọn tâm huyết cho hội họa. Với khả năng tự học và cảm quan tinh tế, ông đạt đến trình độ cao trong nhiều thể loại…