(VNGL – Đọc sách). Đằng sau mỗi tên làng, tên xã là những lớp trầm tích lịch sử, văn hóa của một vùng đất. Tìm về nguồn cội địa danh cũng là trở về với diện mạo quê hương qua những biến thiên thời gian. Với Làng Xã Bình Định Xưa & Nay (NXB Hội Nhà văn, 2025), nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị góp thêm một công trình công phu, khảo chứng lịch sử hình thành, biến đổi của làng xã Bình Định qua các thời kỳ. Với hơn 1.100 trang sách, chia thành hai tập thượng và hạ, đây là kết quả của nhiều năm sưu tầm, điền dã, đối chiếu tư liệu của ông.
1.
Ngay từ đầu, tác giả đã xác định rõ giới hạn và mục đích của công trình: “Thực hiện tập sách nầy, chúng tôi không có tham vọng diễn đạt ý nghĩa, nội dung tên gọi Làng Xã của tỉnh Bình Định. Chúng tôi chỉ khảo sát việc dựng lập và cải đổi địa danh hành chánh, ghi nhận biến động địa giới của chúng qua từng thời kỳ”. Lời bộc bạch ấy cũng chính là chìa khóa để tiếp cận cuốn sách. Đây không phải công trình giải nghĩa địa danh theo hướng ngữ nguyên học, càng không phải một tập khảo cứu phong tục, văn hóa làng xã theo nghĩa rộng. Trọng tâm của sách là quá trình hình thành, thay đổi tên gọi, địa giới và đơn vị hành chính của các làng, xã Bình Định qua lịch sử. Từ đó, tác giả giúp người đọc nhận ra sự vận động của một vùng đất trong mối quan hệ với những biến chuyển lớn của quốc gia.
Bình Định khởi đầu là phủ Hoài Nhơn từ năm 1471, dưới triều Lê Thánh Tông. Qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn Trung hưng và thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, diện mạo làng xã nơi đây từng bước hình thành và phát triển. Tuy nhiên, việc nhận diện đầy đủ những đơn vị cư trú, địa danh và địa giới hành chính của Bình Định xưa không phải điều dễ dàng. Tác giả cho biết, năm 1776, khi Lê Quý Đôn được chúa Trịnh phái vào làm Hiệp trấn Thuận Hóa, ông cho các huyện quan Quảng Nam lược khai ruộng đất từ Quảng Nam vào đến Gia Định. Riêng vùng Bình Định lúc bấy giờ đang diễn ra chiến sự giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn nên không được thống kê trong Phủ biên tạp lục. May mắn thay, tư liệu về làng xã Bình Định vẫn được lưu giữ trong hai bộ địa bạ triều Nguyễn: địa bạ năm 1815 dưới triều Gia Long và địa bạ năm 1839 dưới triều Minh Mạng. Đây là những nguồn tư liệu quan trọng, giúp hình dung tương đối chính xác diện mạo các xã, thôn, huyện, phủ và tỉnh thành Bình Định thời bấy giờ.
Trong công trình, tác giả khảo sát làng xã Bình Định dưới triều Nguyễn, những biến động qua các triều Gia Long, Minh Mạng, Đồng Khánh. Tiếp đó là giai đoạn Pháp thuộc, dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa và sau năm 1975. Mỗi thời kỳ có những cách tổ chức, quản lý và điều chỉnh địa giới riêng, tác động trực tiếp đến sự tồn tại, thay đổi của tên làng, tên xã.
Chẳng hạn, trong cuộc cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng, các trấn được đổi thành tỉnh, Bắc thành và Gia Định thành bị bãi bỏ, thể hiện xu hướng tập trung quyền lực về triều đình. Ở cấp địa phương, những thay đổi về đơn vị hành chính cũng diễn ra mạnh mẽ. Năm 1832, triều Minh Mạng có chủ trương cải đổi một số địa danh làng xã, đồng thời nâng ấp lên thành thôn, xóa bỏ cấp xã trong hệ thống hành chính địa phương. Những thay đổi ấy cho thấy tên gọi làng xã không phải một thực thể bất biến. Chúng chịu tác động của chính sách quản lý, sự phát triển dân cư, việc khai khẩn đất đai và những yêu cầu tổ chức lãnh thổ qua từng thời kỳ.
2.
Điểm đáng quý của cuốn sách là từ những vấn đề tưởng như khô khan của địa giới hành chính, tác giả đã giúp người đọc nhận ra mối liên hệ giữa lịch sử và những địa danh thân thuộc hôm nay. Những tên gọi Phù Cát, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Tuy Phước, An Nhơn, Quy Nhơn… là kết quả của những quá trình dựng lập, phân chia, sáp nhập và điều chỉnh kéo dài qua nhiều thế kỷ. Ví dụ như An Nhơn, tác giả cho chúng ta những thông tin cụ thể về địa danh này cũng những đổi thay địa giới hành chính và tên gọi theo thời gian.
Theo đó, tên gọi An Nhơn xuất hiện từ năm 1832, khi huyện Tuy Viễn được chia thành Tuy Viễn và Tuy Phước, lập phủ An Nhơn quản lãnh hai huyện. Qua các thời kỳ, địa giới An Nhơn nhiều lần điều chỉnh. “Năm 1910, tổng Mỹ Thuận của huyện Tuy Viễn sau khi trích lập số làng cho huyện Bình Khê, cải tên là tổng Mỹ Đức. Bấy giờ phủ An Nhơn trực tiếp lãnh 4 tổng Phú Phong, Mỹ Đức, Nhơn Ngãi và An Ngãi. Sau phủ lập thêm tổng Háo Đức, trích lập từ 9 làng của tổng An Ngãi, nhận thêm 12 làng của tổng Xuân An huyện Phù Cát và 14 làng của tổng Dương Xuân phủ Tuy Phước. Và rồi tổng Phú Phong cắt chuyển cho huyện Bình Khê, phủ An Nhơn năm 1935 còn quản 4 tổng An Ngãi 26 làng, Nhơn Ngãi 28 làng, Háo Đức 35 làng, Mỹ Đức 19 làng. Nhưng với thực tế, Mỹ Đức bấy giờ chỉ 12 làng. Sau năm 1935, phủ An Nhơn lập mới thêm 2 tổng, quản tất cả 6 tổng, là An Ngãi, Nhơn Nghĩa Thượng, Nhơn Nghĩa Hạ, Mỹ Đức, Háo Đức Thượng, và Háo Đức Hạ.
Tiếp sau năm 1946, huyện An Nhơn bỏ tổng lập xã, rồi hợp xã, các xã đều bắt đầu bằng chữ Nhơn. Năm 1950, An Nhơn tách các thôn Bả Canh, Bằng Châu, Mỹ Hòa, Phương Danh, Tân Ninh của xã Nhơn Hậu lập thành xã Đập Đá, cho trực thuộc tỉnh.
Năm 1958, quận An Nhơn của tỉnh Bình Định dưới chính thể VNCH có 13 xã: Đập Đá, Nhơn An, Nhơn Hạnh, Nhơn Hậu, Nhơn Hòa, Nhơn Hưng, Nhơn Khánh, Nhơn Lộc, Nhơn Mỹ, Nhơn Phong, Nhơn Phúc, Nhơn Thành, Nhơn Thọ” (tr. 635).
Ngày 28.11.2011, thị xã An Nhơn chính thức được thành lập theo Nghị quyết số 101/NQ-CP của Chính phủ, gồm 15 đơn vị hành chính gồm 5 phường và 10 xã. Từ một địa danh xuất hiện trong hệ thống phủ huyện triều Nguyễn đến một thị xã, An Nhơn là minh chứng sinh động cho sự biến đổi của không gian hành chính.
Trong sách, chúng ta còn được đọc những bài nghiên cứu, khảo luận của ông trong mục “Trở về cùng với địa danh xưa” với nhiều bài viết về tường thuật của Christoforo Bori, về Đào Tấn với biệt lũy Xuân Quang, về địa danh Phú Đa qua câu ca dao xưa… Những khảo luận mở ra những hướng tiếp cận khác nhau đối với lịch sử địa phương. Từ những dữ liệu hành chính, tác giả đưa người đọc trở về với những không gian lịch sử từng tồn tại, những địa danh có thể đã thay đổi tên gọi, địa giới nhưng vẫn lưu dấu trong văn hóa và ký ức quê hương.
Trong bối cảnh địa giới hành chính có những đổi thay, việc nhận diện lịch sử hình thành và biến động của làng xã càng có ý nghĩa. Bởi vậy, Làng Xã Bình Định Xưa & Nay là công trình cần được đọc chậm, tra cứu và đối chiếu. Giá trị của sách trước hết nằm ở hệ thống tư liệu phong phú, công phu khảo chứng và cách nhìn xuyên suốt các thời kỳ lịch sử. Nhưng hơn thế, công trình còn gợi mở một nhận thức, ấy là, muốn hiểu sâu về quê hương hôm nay, cần trở về với những lớp địa danh, làng xã đã làm nên diện mạo quê hương từ hôm qua…
ĐỨC LINH


