Những câu kinh chơi vơi

(VNGL – Truyện ngắn). Bà ngoại tôi không học triết học. Bà cũng cũng không cần biết trong suốt năm tháng hoằng pháp của đức Phật, ngài chưa từng viết một dòng kinh nào, không có một hệ thống giáo lý được ấn định thành văn bản ngay khi Phật còn tại thế. Ngoại không bận tâm mấy khái niệm trừu tượng. Bà chỉ biết mỗi chiều khi đám mây bay cả ngày mệt nhừ lui về nghỉ ngơi sau chùa Lạc, bà lại qua đọc kinh với sư. Sư đến từ đâu tôi không biết. Nhưng khi tôi lên bảy tuổi, giữa vùng xóm nhỏ xác xơ hoang vu mấy nhà lơ thơ, nhỏ thó, xuất hiện một ngôi chùa và một vị sư nữ. Gọi là chùa vì nơi đó có tượng Phật chứ chùa cũng chỉ to hơn nhà tôi một tí. Bà ngoại từ ấy có nơi đi về, qua lại khi ba mẹ tôi ra đồng còn tôi đi học với mấy đứa bạn.

Bà ngoại quý sư Cả lắm không biết có phải vì sư có gương mặt giống dì Hai của tôi không? Mỗi lần thu hoạch được rau, củ, bà luôn cẩn thận gói ghém lựa chọn những thứ ngon nhất đưa tôi xách qua biếu sư. Bà luôn dặn dò cẩn thận nhớ nói với sư là “Bà ngoại con gửi nhờ sư thắp nhang kính Phật”. Với một đứa trẻ như tôi, bao câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu. Có lần, tôi mạnh dạn hỏi:

– Phật dùng được những thứ này hả ngoại?

Nghe tôi hỏi, bà ngoại quở phạt.

– A Di Đà Phật! Cháu con dại người phạm lỗi, ngài cao siêu đừng chấp.

Phật xuất hiện trong tuổi thơ tôi như vậy đó. Mấy cô trong xóm tôi lên chùa Lạc thắp nhang tôi hay tò mò lắng nghe lời khấn nguyện lầm rầm với đôi mắt nhắm nghiền. Các cô xin đủ thứ trên đời, hứa đủ thứ trên đời như kiểu đổi chác. Từ ấy, tôi ít lui tới chùa, cảm giác vừa sợ vừa lo vì sự vô tri của mình có thể để lại hậu quả gì đấy. Chùa Lạc trở nên xa xôi. Đi học về tôi luôn tìm cách né tránh vì cứ có cảm giác nếu mình đi ngang qua biết đâu tượng Phật sẽ nhìn thấy mà phiền lòng về câu nói hay một ý nghĩ hồ nghi nào ấy không phải phép. Con Huệ bạn tôi không hiểu những tâm tư đang đâm chồi nhảy nhánh trong tôi. Hôm nào sau mấy rằm lớn nó lại thì thầm vào tai khi tiết học cuối chưa dứt:

– Lát nữa, đi về đường xóm chùa nghe!

Tôi biết cái bụng háu ăn của nó đang trông chờ sư Cả nhổ cỏ vườn chùa thấy chúng tôi đi ngang qua thế nào cũng gọi lại:

– Na ơi, có chè nè con!

Sư Cả thích gần tôi vì ngoại tôi tối nào cũng qua chùa đọc kinh với sư. Nhiều hôm chẳng đợi được ba mẹ về ăn cơm ngoại đã đi trước. Nhìn dáng ngoại nghiêng nghiêng chân bước nhanh trên con đường đất tôi cứ có cảm giác chùa có gì đó đủ sức níu ngoại hơn tôi. Có hôm, tôi bày trò vờ đau bụng, ngoại cạo gió đánh dầu rồi sấp ngửa đi cho kịp lễ, sợ sư Cả đợi. Sau lần ấy tôi thấy mình tệ quá. Dường như mình cứ tìm cách rẽ chia ngoại với chùa.

Ba mẹ tôi cùng sinh ra ở mảnh đất miền Trung nắng thì dư lửa mà mưa thì dư nước. Mùa hè gió Lào dan díu với cái nóng thổi rát mặt, mùa đông cái lạnh căm căm. Lũ lụt năm nào cũng về quần thảo hung hãn. Làm ra gạo mà cũng có năm thiếu ăn. Tất cả năm miệng ăn trông vào ba sào ruộng. Ba nghe người ta nói Tây Nguyên đất rộng chỉ có mưa không bão làm ăn cũng dễ nên bàn với mẹ và ngoại. Thương ba mẹ đồng ý thế rồi cả nhà dắt díu nhau vô Tây Nguyên. Với bản tính cần cù không sợ khó, sợ khổ ba mẹ biến đất hoang thành nương thành rẫy. Cây cà phê dần xanh tốt thay cho cây cỏ tranh, vườn sú vườn cải thay cho hoa dã quỳ. Ngoại tôi biết ơn đất nơi này lắm. Đêm nào cũng ra trước hiên khấn vái thành tâm.
Có lần mẹ bê cục đá dưới suối nặng quá liền gọi ba chạy xuống đỡ hộ. Ba vừa chạy đi thì một tảng đá to trên núi đổ ụp xuống chỗ ba đang đứng trước đó. Ba mẹ về kể với ngoại.

– A Di Đà Phật! Mai sắm ít lễ lên chùa tạ ơn. Phật gia hộ nhà mình đó.

Mẹ tôi đạp xe hơn 20km để ra chợ thị xã mua cho được bó bông cúc, trái cây và mớ giấy tiền vàng mã về nấu cơm tạ ơn Phật và ông bà hộ trì. Vì trong cái xóm nhỏ của tôi muốn thèm trái ổi cũng phải dặn bà Năm bán dạo mang về. Hôm nào vui bà nhớ, bữa nào vừa cãi nhau với ông chồng lưu linh đế thích là bà lại quên. Có đợt, trong mâm giỗ ông ngoại nhà tôi thiếu món canh mít lá lốt (món ăn ông rất thích ngày còn sống) chỉ vì tối hôm trước hai vợ chồng bà Năm cãi nhau.

Phật trong tôi lúc ấy đúng là một vị thần huyền bí bảo vệ gia đình tôi bảo vệ ba tôi. Nhờ Phật chở che mà tôi có ba để mè nheo dù đã lớn xác. Tôi bắt đầu thấy mình gần gũi với Phật hơn và tôi lại mon men qua chùa Lạc. Tôi phát hiện ra sư Cả hiền lành, Phật cũng hiền lành. Phật chỉ ngồi trên cao nhìn tôi với ánh mắt phúc hậu. Thậm chí sau khi thắp nhang cho Phật xong tôi còn được sư Cả cho cái bánh, quả quýt lấy lộc Phật ban. Tôi quen dần với việc đi chùa cùng ngoại mỗi tối, không biết có phải vì quen nghe những câu kinh (mà tôi không hiểu tí nào) hay vì quen với việc trước khi về thế nào cũng được nhận lộc của sư.

Mỗi độ rằm tháng Giêng, ngoại và các bà cụ lên chùa đội sớ dâng sao cầu bình an. Tôi mơ hồ nghĩ về những ngôi sao trên bầu trời đêm xanh thẳm xa xôi ấy sao lại vi diệu đến vậy. Chúng lại có thể chiếu và ảnh hưởng đến sinh mạng của một con người. Có năm, tuổi của ba bị sao xấu, ngoại dặn dò:

– Sao Thái Bạch đó, liệu mà cẩn thận nghe con.

Tôi chỉ biết đến ngôi sao Hôm (sao Mai). Một ngôi sao có những hai cái tên luôn rực rỡ riêng biệt, đứng ở đâu giữa cánh đồng hay trước hiên nhà, tôi cũng đều nhìn thấy. Ngôi sao ánh sáng vàng lung linh ấy sao lại có thể đem đến cho người ta một tai họa rập rình gì chứ. Sao nó có thể chiếu vào vận mệnh ai đó. Vũ trụ này chẳng lẽ là một sự sắp đặt của một thế lực nào đấy. Tôi hồ nghi thuyết thiên văn Phương Đông không liên quan đến giáo lý của nhà Phật liệu có đoạn kinh nào nói rằng con người bị chi phối bởi các vì sao. Mà nếu có thì một cái lễ nhỏ có hóa giải được không? Tuy vậy, mới mồng tám tháng Giêng tôi cũng đi khai kinh với ngoại và các cô dì cùng xóm. Tôi chỉ biết đến ông sao Thần nông, sao Bắc đẩu… Tôi xa lạ với sao La hầu, sao Kế đô, Thủy diệu… Có lần, tôi tò mò hỏi sư Cả:

– Phật bày mình cúng sao sẽ bình an hả sư?

Sư không giải thích chỉ nói:

– Con cứ tin thì sẽ có, cứ đi thì sẽ đến.

Tôi đi dọc dài tuổi thơ với tháng Giêng cầu an, tháng Bảy cầu siêu… Tôi lớn lên với những chú nguyện mà mình không hiểu rõ nghĩa, chỉ đọc và tâm nguyện cứ tin sẽ có, cứ đi sẽ đến của sư Cả mà đến đâu thì tôi không rõ. Ngoại thì mong nhiều, mong tôi một đời bình an, ba mẹ làm ăn ổn định… mong câu kinh, câu kệ sẽ dẫn về thế giới cực lạc. Trong khi tôi thì mong ngoại luôn ở bên tôi, ở đây ngay lúc này, ngoại cốc đầu khi tôi hỏi ngô nghê, có ba mẹ dù vất vả nhưng hạnh phúc. Sư Cả có giải thích với tôi khi tôi hỏi về nơi ngoại dự định sẽ đến nhưng sao tôi vẫn thấy mình chấp chới. Nhưng tôi không dám hỏi, tôi để đó cho riêng mình. Chỉ có điều, cảm giác tội lỗi luôn bủa vây mỗi khi đọc kinh tôi lại nghĩ những chuyện phía sau cánh cửa chùa. Miệng tôi đọc như máy mà lòng tôi mơ đến chiều nay vừa cãi nhau với đứa bạn thân. Chỉ có sư Cả và ngoại vẫn chú tâm đọc. Quyển Nhật Tụng ngoại đã thuộc, sư Cả chắc chắn cũng thuộc, chỉ mình tôi không thành tâm câu chữ như cơm bỏ vào miệng chén mẻ lại rơi ra.

Năm nay, mùa mưa đến sớm hơn thông lệ. Mới chạm tháng Năm mưa bắt đầu giành nửa ngày của nắng. Sư Cả không phơi thuốc lá nam được, ngoại cũng không đi hái thảo dược quanh vườn giúp sư. Nhìn mấy cây nhân trần, sài đất, chó đẻ, răng cưa chưa kịp thu hoạch phất phơ trong mưa, tiếng sư Cả thở dài theo từng đợt gió rít lên mái tôn đã vài chỗ thủng. Ba có mấy lần qua chùa phụ sư sửa nhưng chỉ sửa thôi chứ vài hôm nước lại lem nhem cả chánh điện. Giá mà trời nắng mấy cây cỏ này sẽ được khoác áo mới với cái tên mĩ miều khi thành thuốc. Tôi hình như lập dị, không quen không yêu với cái tên Diệp Hạ Châu, Bán Chi Liên… Tôi cứ tưởng tượng ra một cô gái không đẹp chỉ cần xuất thân trong gia đình giàu có sẽ được gọi là công chúa, như con Ánh con nhà cô giáo Tâm và có ba làm công an. Dẫu sư Cả hay bảo tôi người giàu có xinh đẹp là nhờ hưởng phước từ vô lượng kiếp. Tôi cũng có thể đẹp, có thể xinh khi chịu tu học từ kiếp này. Tôi mơ hồ lo lắng có chút hối tiếc giá người ta không phải uống canh Mạnh Bà gì ấy, có phải người ta nhớ mà sống tử tế không cần đọc kinh mới an ủi và thay đổi cuộc đời.

Minh họa: Nguyễn Chơn Hiền

Sư cả năm nay đã ngoài ba mươi. Sư ốm hơn so với cái ngày mới về xóm. Tôi cứ có cảm giác sư già đi vì ngôi chùa cũ kỹ tạm bợ. Sư hiền lành phúc hậu giá mà Phật thấy sự hiền lành chăm chỉ bù đắp cho sư bớt khổ thì hay quá. Tôi vẫn thì thầm cầu nguyện cho sư khi đứng trước Phật. Ngoại thương sư như thương đứa con gái lấy chồng xa hơn năm năm rồi chỉ gặp qua điện thoại. Hôm rồi, ngoại đưa tôi xách cho sư hai đòn bánh tét chay, lần đầu tiên tôi thấy có chiếc ô tô lạ đỗ trước chùa. Chiếc xe đẹp hơn xe nhà con Ánh khiến tôi tò mò. Con Mực quá quen với tôi nên vẫy đuôi đi theo vào gần tới cửa thì thụt lui. Trước bậc thềm, đôi giày nam sang trọng và bóng loáng khiến tôi chú ý. Trong giấc mơ bé thơ đã có lần tôi đã từng mơ về một ngày mình sẽ giàu có, sẽ không cho ba mẹ lao động vất vả, tôi sẽ sắm nhiều đồ đẹp để ba mặc mỗi ngày. Lúc ấy, ba sẽ tự tin mà mang những đôi giày như thế chứ không phải cảm giác rụt rè ngứa ngáy khi khoác đồ vest mà mỗi khi đi đám cưới về là cởi ra ngay. Tôi nép ở cửa không dám vào tìm sư nhưng tôi nghe tiếng khóc của sư. Tiếng khóc nức nở, rồi da diết. Tiếng khóc như lúc tôi bị mẹ bỏ rơi không cho đi chợ huyện. Có lúc lại sụt sùi như lúc ba nhìn mẹ vất vả với những nếp nhăn vết đốm đồi mồi loang đen gương mặt người phụ nữ ngoài bốn mươi.

– Anh không muốn em sống đọa đày như vầy!

Đứa con gái mười lăm tuổi bỗng nhớ đến anh học hơn hai lớp cũng hay nhìn lén và gọi tôi là em như vậy. Rụt rè tôi đi thụt lùi đem hai đòn bánh tét về nhà.

– Sư đâu mà con đem bánh về, Na?

Tôi ấp úng: “Dạ, con không thấy sư, sợ con Mực ăn nên để tối ngoại đem sau”.

Không hiểu vì sao lúc đó tôi nói dối mà câu nói trôi tuột gọn gàng đến độ ngoại chả hỏi thêm tí nào. Tối ấy, tôi qua chùa đọc kinh với ngoại và sư. Chiếc xe đẹp đã không còn đậu khập khểnh ở sân chùa. Mà nó không nên đậu ở đây, thật chẳng có gì phù hợp với nó cả. Vẫn bài kinh Nhật Tụng quen thuộc nhưng sao hôm nay tôi nghe giọng sư chơi vơi xa xôi. Lời kinh rời rạc không còn liền mạch trong tôi. Bà ngoại không hỏi sư chiều đi đâu, chắc ngoại nghĩ sư lên rẫy tìm lá. Lần đầu tiên tôi muốn nhìn sư Cả, muốn nhìn như thể có dự cảm gì bất an sẽ đến. Đôi mắt sư đẹp mà buồn quá, gò má sư cao chứa cả một vùng trời bất trắc. Bà ngoại hay bảo: “Gò má cao số đa đoan” mỗi khi nhìn tôi và sư Cả. Tôi biết bà vẫn thầm gieo hạt giống tu hành trong tôi. Mỗi khi than thở với ba mẹ tôi con gái mà tuổi Canh Dần, sinh tháng Dần mà sinh không đúng giờ Dần. Ngoại cứ chắc lằn chuyện tôi sinh giờ Tý, da con chuột chẳng bọc được con hổ, sợ số lại khổ. Tôi vẫn tin trong những lời kinh khấn nguyện ngoại có khấn cho tôi. Mà tôi có thấy mình khổ đâu. Ba mẹ thương tôi hơn thằng em tuổi Quý Tỵ của mình. Nó luôn trong tâm thế phải nhường tôi, không được bắt nạt tôi, phụ giúp tôi… Chắc ba mẹ cũng như ngoại sợ mai rày tôi khổ không có ai bù đắp nên bù đắp từ giờ.

Một sớm mai, mưa dập dìu khắp đồi, mưa làm lem nhem mấy con đường đất đỏ vào xóm, mưa chạy xuống những đường mương làm nước đỏ quạch. Những hàng thông cứ dìu dặt hắt hiu có gió thổi qua lại rung lên những thanh âm dờn dợn. Tôi chỉ biết ve và phượng vĩ qua trang sách. Nhưng chúng tôi không bao giờ cho cơn mưa nuốt chửng mình trong những nỗi buồn hiu hắt. Thường thì sẽ tụ tập tới nhà nhau để làm bánh khoai nướng. Chiều chiều dắt díu nhau ra các vườn cà rốt, khoai tây vừa đào xong, theo dấu mưa mà trồi lên để mót, kiếm tiền mua này kia. Khoai tây mùa này là trái mùa nên có giá cao, chỉ cần cả lũ mót được vài ký đem ra chợ đổi cũng đủ một bữa làm bánh ăn ngập ngụa.

Đang trong chiếc áo mưa nilon qua nhà con Hoa, chiếc xe màu trắng lướt qua tôi với những vệt bùn bắn lên mặt do xe chạy nhanh. Chưa kịp định thần nhìn lên, tôi nhận ra chiếc xe tháng trước ở chùa sư Cả. Tôi chạy vội về chùa. Chùa đóng cửa, con Mực nằm trong chuồng vẫy đuôi chào tôi. Trời mưa cũng làm nó lười biếng. Chùm chìa khóa sư treo cạnh cửa chuồng nhưng tôi không mở vì chỉ có ngoại và sư mới được dùng. Cảm giác mất mát loang khắp da thịt, tôi ngờ ngợ chiếc xe ấy đã chở sư Cả của ngoại tôi đi.

Một đêm, hai đêm, ba mươi đêm… trôi qua, chùa đìu hiu u tịch chỉ còn tiếng kinh của ngoại đều đều rơi trong bóng tối. Ánh sáng nhập nhòe của ngọn đèn dầu nơi chánh điện không giấu được giọt nước mắt cố giữ lại trên mắt ngoại. Con Mực hình như cũng biết buồn, thấy tôi nó dùi dụi vào người như thể muốn nói: “Tao cũng buồn lắm Na”.

Ban ngày, ngoại không qua chùa hái lá dọn cỏ như trước. Không phải vì buồn mà sợ xóm làng đi ngang lại xầm xì chuyện sư Cả. Người ta đồn đoán nhiều lắm. Nhưng ngoại không tin đâu. Ngoại tin sư có nỗi niềm gì khó nói nên mới ra đi vội vã. Tôi thì cất lại buổi chiều hôm ấy cho riêng mình vì mỗi ngày thấy ngoại bắc chiếc ghế gỗ ngồi nhìn ra đường lộ là tôi biết ngoại chờ ai. Tôi chỉ sợ đường ngoại chọn về khập khểnh trong tiếng kinh rơi. Từ dạo ấy tôi không bỏ lễ Nhật Tụng ngày nào dù bạn bè vẫn rủ đi ăn chè. Tôi biết ngoại cần tôi, tôi sẽ níu câu kinh để nó không bay đi tìm một người đã không còn thuộc về chốn này.

TRẦN THANH THỦY

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Chiều du hoang

Những ngã tư đèn đỏ, đèn xanh
Định hình một hướng đi chưa dứt
Mưa giăng mù phố núi
Về hướng nào đây em?

Tĩnh thu

Mùa treo đêm lên mắt nhãn
gió đọc trộm bậc cầu thang
sương đậu mái vòm cong
mỗi giọt trong như mắt trẻ
vũng nước rửa mặt bầu trời
nước trời cùng sáng

Hương nhài cũ chưa tan

Khi những cánh diều không cõng nổi ước mơ
Ta biết nói gì cùng mùa hạ
Giá có thể trở lại làm đứa trẻ sà vào lòng mẹ
Khóc một trận hả hê

Giấc mơ chữ

Cõng mình qua cánh đồng thiếu nữ
gặp trong veo rạng rỡ nét cười
gặp ngác ngơ mắt nhìn con gái
môi hồng say đắm dệt thanh xuân