(VNGL – Truyện ngắn). Quách dậy từ khi gà còn chưa gáy. Bậc thềm dày sương. Chiếc điếu nâng lên rồi khẽ khàng hạ xuống. Mọi người còn say ngủ, Quách không nỡ làm ồn. Hút thuốc lào mà rón rén khác nào bóp mũi uống nước, đỡ khát đấy nhưng không thấy được cái đã đời. Kiềm chế cơn thèm, Quách ra sân vặn vẹo chân tay, chờ đến giờ thì nổi lửa đồ xôi, luộc gà. Hôm nay ngày giỗ của Đức tổ Cương quốc công Nguyễn Xí. Cả đêm qua Quách trằn trọc. Cứ nhắm mắt là lời ông Cổn xắt xéo trong ngực. “Đến họ mạc của mình cũng không giữ được thì cúng kiếng làm chi”. Quách nghiến răng ghìm chặt nắm đấm. Máu rần rật nóng trong mắt, trong ngực. Mặt ông Cổn trắng bệch, láo liên con mắt. Lời nói tràn ra mâm bát, làm nặng nề cả đôi đũa gắp thức ăn. Nếu bà con không bấu tay níu áo Quách ngồi xuống, xô xát là điều không tránh khỏi.
Ông Cổn là trưởng tộc phái xóm trên, thuộc đại chi một của dòng họ Nguyễn Đình. Là chi cả, lại gần nhà sát ngõ với nhà thờ chính nên chuyện lớn chuyện nhỏ trong họ luôn phải qua ông xin ý kiến. Bà con họ tộc không ít người than phiền về sự nhiêu khê này. Có ai dám nói thẳng đâu, dấm dúi với nhau đôi câu chép miệng rồi ấm ức bỏ đi. “Già rồi, yếu rồi còn ham hố chi trời. Thả bớt việc họ cho con cháu để chúng còn biết mà giữ gìn gốc tích tiên tổ. Cứ nặng nhẹ ri mãi làm ai cũng ngại ngần”. Đã thế, gần đến ngày giỗ lạt là cái sự quan trọng của trưởng tộc cứ như quả bóng được bơm căng, lúc nào cũng bận rộn lơ lửng. Từ ngày Quách trở lại làng, ông Cổn có phần trăn trở. Họp họ lần nào ông cũng căng thẳng. “Bây cứ đánh tiếng là lo cho sức khỏe của tau nhưng kỳ thực là muốn lôi thằng Quách vô hội đồng quản tộc. Tau còn sống thì đừng hòng. Chi dưỡng tử thì không bao giờ được đứng chung hàng với các chi chính”.
Chỉ có sự lặng im đáp lời ông Cổn. Mọi người vẫn gọi Quách khi cần. Từ việc đảo ngói thay rường phần hạ điện hay sơn mới đôi hạc gỗ trong hậu cung, từ việc vót cọc cờ phướn đến dầu đèn hương khói trong ngày sóc, vọng Quách đều nhiệt tình tham gia không chút so đo. Một câu thằng Quách, hai câu thằng Quách, việc dễ thì chớ, việc khó đã có thằng Quách, hắn loáng cái bằng mình vật lộn cả ngày. Ông Cổn thấy mình như chiếc áo cũ vắt đầu hồi. Nóng mắt nóng tai mỗi lần thấy Quách xuất hiện.
Từ chiều ngày hai chín, sau lễ giỗ vọng, chén rượu đưa lời, ông Cổn lôi chuyện từ trăm năm ra xóc xiểm.
– Con cháu ngoại tộc đứng sang một bên. Chi dưỡng tử đội mâm sau cùng.
Quách như con tằm quằn quại trong kén, muốn gào thét mà không thể xé toang lớp vỏ bao bọc, đành đau đớn lặng câm. Ông Cổn nói đúng mà. Họ của Quách là họ Chế. Họ Chế là tù binh của Đại Việt từ hàng trăm năm trước được ông Xí cảm hóa mà thành người Việt. Tổ tiên Quách giờ ở đâu, có thấu nỗi niềm của Quách không, có thương Quách không?
Quách nuốt nỗi đắng nghẹn bước qua cổng tam môn. Lời ông Cổn ráo hoảnh, lạnh lẽo sau lưng. Gió đằng Đông thổi nhẹ. Hơi rượu nồng nỗng trong lòng, Quách bần thần ngoái lại nhìn từ đường. Cây hương cháy cong vồng xoắn xuýt khiến lòng Quách dịu lại. “Thôi kệ”. Quách liêu xiêu đi về. Gốc duối lặng im, vài quả chín vàng rơi trúng mặt, Quách cúi người nhặt lên. “Răng mi cứ vàng mọng rứa? Mai tau đồ xôi trắng cúng ông. Hoan hỉ, hoan hỉ nhé”.
***
Tháng Năm năm 1444, quốc vương Chiêm Thành là Bí Cai kéo quân vào cướp thành Châu Hóa. Vua Lê Nhân Tông còn nhỏ. Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính, sai Nhập nội kiểm hiệu thái bảo Lê Bôi, Tổng quản Lê Khả mang theo 10 vạn quân đi đánh. Quân Đại Việt đánh đâu thắng đó. Với chủ trương việc nội trị được ưu tiên hàng đầu nên không bắt bớ, giam cầm quân Chiêm mà đuổi hết về nước. Vậy mà chưa tròn năm, Chiêm Thành lại kéo quân gây hấn, quyết tâm cướp thành An Dung. Triều đình sai Nhập nội đô đốc Nguyễn Xí, Bình chương tư đồ Lê Thận đem quân đi đánh. Đầu năm 1446, triều đình tiếp tục mở cuộc tiến công lớn vào Chiêm Thành, sai các tướng Lê Thụ, Lê Khả, Lê Khắc Phục đem hơn 60 vạn quân ra trận. Lần này thì không đuổi về nước nữa, quân Chiêm thua trận sẽ bị bắt giữ làm tù binh.
Hai bên ở thế giằng co chẳng bao lâu thì quân Đại Việt giành được thế trận, lần lượt khống chế các xứ Ly Giang, Đa Lang, Cổ Lũy… mở thông đường thủy, dựng đắp thành lũy. Thừa thắng xông lên, các cánh quân của Đại Việt đánh thẳng vào cửa biển Thi Nại, tiến công thành Chà Bàn, bắt sống vua chiêm là Bí Cai và các phi tần, bộ thuộc, ngựa voi, vũ khí cùng các hàng tướng. Trong trận này, hơn ba mươi ngàn tù binh người Chiêm bị bắt về Đại Việt.
Tháng Sáu năm đó, quốc vương Chiêm Thành Bí Cai bị giải đến Thái miếu làm lễ dâng tù cáo thắng trận. Bí Cai và ba người phi tần bị giữ lại ở kinh đô. Triều đình sai tìm những người Chiêm vốn ở kinh thành từ trước, giao cho người Chiêm và các hàng tướng để họ trở về nước.
Vậy mà vẫn có rất nhiều hàng tướng Chiêm Thành xin được ở lại. Một mực xin được đưa về Bàu Ó.
Bàu Ó hoang sơ. Thi thoảng triều lên, nước biển tràn vào. Chỗ nước ngọt. Chỗ nước mặn xâm lấn. Trại tù hàng binh nhà Minh được lập ở đây. Sau chiến thắng Lam Sơn, Đức Thái tổ Lê Lợi giao cho Nguyễn Xí cai quản, lấy tên là trại tù binh Đồng Sô. Ông đã xin vua cấp đất và giao cho hai tướng Nguyễn Sỹ, Nguyễn Tiềm làm nô sứ, tự cai quản, sản xuất, ổn định đời sống, lập thành làng Phú Ích. Giờ Đồng Sô càng đông hơn vì còn thêm quân binh Chiêm Thành. Rồi làng sẽ lại đẻ ra làng.
Có phải vì thế mà họ chọn ở lại.
Làm sao biết trong đầu họ nghĩ gì.
Quách ngước mắt nhìn lên bao la trời xanh. Những con số, những địa danh cũ chỉ còn trong gia phả. Mùi hương trầm từ ngôi miếu nhỏ sau gốc duối cổ thụ quẩn quanh trong gió như một lời nhắc nhở về sự tồn tại bền bỉ của những người họ Chế trên đất Thượng Xá này. Quách đưa tay chạm vào lớp vỏ xù xì của cây duối, cảm giác như đang chạm vào lớp lớp da thịt của thời gian.

Từ bao giờ, ai mà nhớ được. Chỉ biết khi sen ở ngoài Bàu Ó bắt đầu hé nụ, bà con trong làng lại kéo nhau ra gốc duối cổ thụ. Sau gốc duối, ngôi miếu nhỏ lập lòe hương đỏ. Hỏi ra mới biết đấy là ngôi miếu do những người họ Chế lập lên. Bát hương nhỏ. Những đĩa quả cũng nhỏ. Bộ ấm sứ da lươn ba chén cũng nhỏ. Chỉ chừng đó thôi. Khói hương theo tháng năm đặc quánh nóc miếu. Ai đi qua về lại cũng cúi người chắp tay vái ba vái rồi mới đi làm như một thói quen.
Những người họ Chế thờ ai ở gốc miếu này?
Gốc duối vẫn ngún hương trong những ngày tuần tiết. Lặng lẽ tỏa bóng mát vào mùa hè, cho quả mọng vào mùa thu. Người ta kháo rằng cây duối đầu làng thiêng lắm. Không thiêng sao ai ra đó xin gì cũng được, kể cả tù hàng binh nhà Minh, quân binh Chiêm Thành, hay dân làng Đại Việt. Chỉ cần thành tâm, cây nhang tỏa khói, vài lời khấn nguyện là ai nấy đều mang theo tâm trạng hoan hỉ trở về. Không ai biết cây duối có từ bao giờ. Từ buổi tiếng hổ đau đớn thét xé trời Thượng Xá cây duối đã ở đó rồi.
Chuyện ông hổ vồ nhầm ân chủ được người Thượng Xá kể đi kể lại như một lời chào nhập làng. Buổi ấy, khi trời còn tinh sương, ông Hội ra đầm cá. Con hổ tưởng kẻ trộm, vồ chết ngay ông Hội. Ân hận, giày vò, con hổ mang xác ông Hội về đồng Lầm chôn cất và canh giữ.
– Ông Hội là ai hả cha?
– Là cha đẻ của ông Xí đó con.
Quách được nghe chuyện về ông Hội nhiều nhất qua lời cha kể. Cha Quách, người đàn ông mang họ Chế. Mẹ Quách là hậu duệ đời thứ 19 của dòng họ Nguyễn Đình. “Làng Thượng Xá mang ơn ông Hội”. Cha kể vậy thì Quách nghe vậy. Nhưng ông Hội mất sớm, lại chẳng có gì gắn với họ Chế nhà mình cả.
– Con người có tổ có tông con ơi. Không có ông Hội thì không có ông Xí. Vì thế mà sau chiến thắng Lam Sơn, ông Xí được Lê Lợi phong chức Long Hổ Thượng tướng quân, Suy trung bảo chính công thần, ông Hội cũng được truy phong tước hiệu Thái Bảo đình quận công.
Là thế. Bài học làm người đầu tiên cha dạy Quách là bài học về hiếu nghĩa với tổ tông.
– Nhưng mình họ Chế mà cha.
– Là một câu chuyện dài. Liệu cha còn đủ thời gian để kể hết cho con. Nhưng con ơi, không còn cha thì còn người làng. Dù là người
Chiêm hay người Việt, dù là họ Chế hay họ Nguyễn thì đều là con của làng Thượng Xá. Ông Xí đã từng nói thế và cha tin thế.
Người dân chỉ chọn bình yên. Có an cư mới lạc nghiệp. Nhưng giữa Đại Việt và Champa luôn xảy ra tranh chấp. Phía Bắc là Thăng Long. Phía Nam là Chà Bàn. Đánh tới đánh lui cả trăm năm không dứt.
Quách nuốt từng lời cha kể. Thoảng trong gió sông Lam tiếng voi gầm ngựa hí, đao kiếm loảng xoảng trong ngún đặc gió chiều sương đêm cùng điệp trùng lau lách ngã gục.
– Không có chiến tranh vẫn vui hơn chứ cha nhỉ?
Cha đã không thể trả lời Quách. Cha lặng im như cây duối đầu làng. Khi đã nếm đủ trầm luân người ta chỉ có thể lặng im. Để chiêm nghiệm. Để lắng lại. Suy cho cùng, đúng hay sai cuối cùng cũng nhẹ nhàng qua đi như hơi thở ngắn trong nhân gian.
Sự yên bình mà cha hằng tin tưởng, sao đến đời Quách lại trở nên nặng nề bởi những lời xắt xéo của ông Cổn. Gió đằng Đông thổi lạnh, Quách so vai thoát khỏi dòng ký ức, thấy mình vẫn đang đứng giữa sân nhà thờ, tay bấu chặt vào gấu áo ngăn cơn run rẩy vừa lướt qua.
Ý chí mở mang bờ cõi chảy từ thời ông Nguyễn Hội dắt tay hai con từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Lam và thường trực trong huyết quản Nguyễn Xí. Nên sau ngày đất nước đại định, mặc dù được vua Lê Thái Tổ ban cấp nhiều lộc điền, Nguyễn Xí còn mua thêm đất xung quanh làng Thượng Xá.
Do bận việc triều chính, Nguyễn Xí không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình mà giao lại cho các con quản lý. Nguyễn Trọng Đạt là người con thứ 10, trước khi tiếp nhận trọng trách cha giao, đã thổ lộ tâm tư.
– Thưa cha, Thượng Xá bây giờ người Chiêm còn đông hơn người Việt. Cha cho con mở cửa Đồng Sô, nới lỏng tù binh, cho họ quyền được hòa nhập.
– Tốt, tốt lắm. Ta khen. Từ trước tới giờ ta vẫn chủ trương hòa ái với tất cả. Thượng Xá không là của riêng bà con Đại Việt mà còn là bầu trời chung của tù binh nhà Minh hay Chiêm Thành. Tất cả đều có thể tự mình khai khẩn đất hoang, mở rộng không gian sống cho mình.
Người bại trận đã khổ, nếu không cho họ sống như người thì thắng để làm gì.
Nhận lời khen từ cha, Nguyễn Trọng Đạt đã tổ chức lực lượng hàng binh Chiêm Thành tiến hành khai khẩn đất đai tại vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc. Các làng Kim Ổ, Thu Lũng… lần lượt ra đời. Sự tử tế giữ chân người. Người Chiêm được làm chủ cuộc sống của mình trên đất Việt. Một số người xin được đổi sang họ Nguyễn để thỏa lòng biết ơn ngưỡng vọng đối với ông Xí. Một số khác chọn sự lưng chừng. Ông Xí cười khà khà.
– Chế Đình, Chế Lạc, Chế Du…. Dẫu là họ Chế hay họ Nguyễn đều uống nước nguồn sông Lam, hít khí trời Thượng Xá mà sống cả.
Lần nào nghe cha kể chuyện, Quách cũng thấy mình lơ lửng. Nửa đau đáu họ tộc xa xôi, nửa ràng rịt lòng mình với dòng họ Nguyễn ân tình.
– Người Chiêm theo Nguyễn Xí không phải vì sợ, mà vì được sống như người. Được gọi tên. Được dựng nhà. Được chôn cất thờ cúng ông bà cha mẹ. Giờ thì con đã hiểu vì sao họ Chế lại thuộc đại chi 16 của dòng họ Nguyễn Đình rồi chứ?
– Nghĩa là họ Chế bù vào phần khuyết thiếu mà Duy Tân, người con út của ngài gánh chịu phải không cha?
– Không con. Không có gì bù đắp nổi mất mát ấy đâu con. Nỗi đau theo tháng năm đã hóa thạch. Cái chết của đứa trẻ chưa tròn tuổi há chẳng cũng vinh quang như cái chết của người xông pha nơi chiến trận sao. Cái chết nào cũng vì dân vì nước cả. Rồi cha sẽ kể con nghe. Nhưng con phải nhớ một điều. Đã là dòng họ nghĩa là phải có sự tiếp nối. Duy Tân mất khi chưa tròn tuổi nên trong gia phả không thể đứng đầu một đại chi con à.
***
Năm Kỷ Mão, niên hiệu Diên Ninh thứ 6, Lạng Sơn vương là Lê Nghi Dân chủ mưu sai tay chân là Phạm Đồn, Phan Ban… trèo tường vào nội cung giết vua Lê Nhân Tông. Cướp được ngôi, Dân đổi tên nước là Thiên Hưng, bắt đầu thiết lập chế độ chuyên quyền của riêng mình. Các trung thần của vua Lê tỏ thái độ chống đối đều bị giết sạch. Nguyễn Xí chọn lặng im. Và mù. Sự mù của Nguyễn Xí đến bất ngờ và chóng vánh khiến bọn phản nghịch rối tâm. Chúng bày ra hết trò này đến trò khác để thử lòng người.
Phạm Đồn láo liên con mắt đi đi lại lại rồi tức tối cho gọi thuộc hạ.
– Ngày mai, các ngươi cho bọn thị vệ trà trộn vào phủ đệ nhà Nguyễn. Ăn ở hầu hạ trong phủ cho đến khi thuộc đường đi lối lại thì hành động.
Phạm Đồn ghé tai thị vệ nói nhỏ. Tên thị vệ run run gật đầu, lắp bắp vâng dạ. Phạm Đồn nghiến răng, mắt đỏ, cười gằn: “Cứ thế, cứ thế”.
Vâng lời Phạm Đồn, bọn thị vệ tung quân vào phủ. Đợi lúc thị nữ đang hầu hạ Nguyễn Xí trong thư phòng thì ngang nhiên giở trò sàm sỡ ngay trước mặt ông. Sự chống trả yếu ớt run rẩy của thị nữ khuấy động thư phòng. Nguyễn Xí thản nhiên hỏi lớn. “Có việc gì ồn ào quá vậy?”.
– Dạ bẩm quan ông, bọn con giã trà ạ.
– Tốt, tốt lắm. Nhớ giã kỹ vào. Trà giã càng kỹ nước càng chát, càng thơm.
Bọn thị vệ cụt hứng buông tay, hậm hực chạy về báo chủ. Phạm Đồn nghe kể vẫn không tin. “Một tướng lĩnh tả xung hữu đột trên chiến trường từ thời mở nước đến giờ thì không thể mù đột ngột vậy được. Ta sẽ kiếm cách khác. Lần này phải mạnh tay hơn. Để xem mày còn vờ vịt được nữa không”.
Phạm Đồn cho quân bao vây phủ đệ từ sáng sớm. Đợi lúc Nguyễn Xí từ buồng trong đi ra. Bọn hầu giả đã lẻn mang Duy Tân, người con trai thứ 16 của Nguyễn Xí đặt ngay trước chân ông. Duy Tân chưa đầy tuổi, còn đang ọ ẹ trong bọc vải. Nguyễn Xí thản nhiên bước tới, đạp ngang người Duy Tân. Tiếng ọ ẹ lịm dần. Bọn Phạm Đồn hoảng hốt ngãng ra, tái mặt bỏ chạy về báo chủ.
Phạm Đồn cười gằn. Cảm giác đã loại trừ được Nguyễn Xí khiến hắn nhẹ nhõm. Hắn cho lệnh rút quân khỏi nhà Nguyễn Xí. Mở tiệc ăn mừng.
– Tiệc mừng lần này ta sẽ cho mời Nguyễn Xí. Nghe đồn ông ta rất giỏi xem tướng, đặc biệt là xem cốt tướng.
Nhận lời mời của Phạm Đồn, Nguyễn Xí dò dẫm đến dự tiệc. Tay gậy tay nải. Phạm Đồn niềm nở đón tiếp. Khi rượu thịt no say thì lân la lại gần nhờ Nguyễn Xí xem cốt tướng.
– Ta nghe thiên hạ đồn ông có tài xem cốt tướng. Ta cũng muốn diện kiến tài năng của ông xem sao.
– Bẩm ngài. Tôi mù lòa. Lấy sờ nắn làm trọng. Có răng nói rứa không biết thêm bớt chi. Xưa nay lời thật thà đều nghịch nhĩ. Nếu ngài hoan hỉ, tôi mới dám xem.
– Ồ, ta có thể nghi ngờ tha nhân chứ tin tưởng tuyệt đối vào tướng số. Ông cứ xem cho ta. Tốt thì vui vẻ đón nhận. Xấu thì cũng biết đường mà lo liệu.
Nguyễn Xí biết cá đã cắn câu, sờ nắn khắp người Phạm Đồn. Sờ đến đâu ông buông lời khen ngợi đến đó. Phạm Đồn đê mê tận hưởng. Khi con mồi đã mềm nhũn trong tay mình, Nguyễn Xí rút dao dắt sẵn trong hài, đâm nhát chí mạng giết chết Phạm Đồn ngay giữa bữa tiệc. Các cánh quân của Lê Niệm, Sư Hồi, Đinh Liệt đã được bày binh bố trận từ trước ập vào hành động. Bọn Phạm Đồn, Phan Ban và các tay chân khác của Lê Nghi Dân bị giết sạch.
Tiêu diệt được bọn phản nghịch, Nguyễn Xí cùng các đại thần phế truất Lê Nghi Dân, đón Gia vương Lê Tư Thành về tôn lên ngôi vua, lấy niên hiệu Quang Thuận.
Sử sách còn ghi lại rất nhiều công lao của Nguyễn Xí từ buổi đầu theo chân Lê Lợi dấy cờ khởi nghĩa Lam Sơn đến vai trò mang tính quyết định của ông trong cuộc chính biến đưa Lê Tư Thành lên ngôi. Nhưng hình ảnh ông già mù nhắm mắt ngửa cổ lên trời, lạc giọng gọi con ơi thì không sử sách nào chép lại cả. Nên mỗi lần nghe cha kể đến khúc đó, Quách đều thấy mắt người rưng rưng. Tiếng khóc bị ghìm lại, nghẹn ứ trong cuống họng. Quách cũng thế. Nên trong tưởng tượng, Quách hay hình dung về người đàn ông tóc pha sương một mình một ngựa phóng như bay về phía cánh đồng. Ở đó có mộ Duy Tân. Ngôi mộ của đứa trẻ chưa đầy năm chắc rất bé. Cỏ sẽ dày lên thậm chí là mất dấu. Nhưng ngôi mộ ấy sẽ như chiếc bọc vải mãi mãi hiền ngoan trong tim người cha già. “Con ơi, hãy hiểu cho ta. Hãy tha thứ cho ta”.
Cỏ mộ sẽ không biết người đàn ông tóc sương ấy là một đệ nhất công thần. Lau lách, sương đêm, giun dế không biết người đàn ông vừa run rẩy đổ mình xuống nấm mồ bé nhỏ ấy là một bậc công thần bốn biển đều ngưỡng vọng uy danh. Chỉ có người cha khóc con vỡ giọng trong buổi chiều hoang lạnh. Lặng câm. Đau đớn. Một mình.
Quách đã rất nhiều lần tưởng tượng ra thế. Nước mắt chảy từ lúc nào không hay. “Con xin được làm con của dòng họ Nguyễn Đình, làm hạt sương mát lành xoa dịu phần nào đớn đau này, thưa ông”. Lần nào Quách cũng thầm xin như vậy. Tiếng khóc đớn đau của người cha già từ mấy trăm năm trước dường như vẫn còn vang vọng, thấm vào từng thớ đất cánh đồng Lầm hôm nay. Quách chớp mắt, bóng hình người đàn ông cô độc uy dũng ấy tan vào khói hương nghi ngút trong hậu cung. Quách nhìn mâm cúng trên tay mình, rồi nhìn sang bóng dáng gầy guộc của ông Cổn. Nỗi đau của tiền nhân đã hóa thạch, chẳng lẽ chút tự ái của hậu thế lại không thể hóa giải hay sao?
Quách thấy lòng mình nhẹ như khói sương khi hòa vào dòng người dâng mâm cúng ông trong ngày giỗ tổ. Vẫn là mâm cúng sau cùng. Quách cúi người nghiêm cẩn đặt mâm. Tiếng ông Cổn ho khúc khắc bên cạnh.
– Để sát mâm vào cạnh bát hương một chút.
Quách lặng người. Nghĩa là không cần phân biệt mâm trước mâm sau nữa. Chỉ cần có lòng thành thì vị trí nào cũng được ấm chân nhang. Quách muốn nói lời cảm ơn ông Cổn nhưng khi chỉnh xong mâm cơm cúng, ông Cổn đã bước sang gian khác, cẩn trọng chỉnh lại từng bát hương, mâm cỗ. Quách chợt để ý bàn tay ông Cổn. Những ngón tay gầy guộc run run. Quách hiểu là ông đang cố gắng gìn giữ những trật tự vốn dĩ đã yên ổn. Người già sợ đổi thay. Huống chi những đổi thay ấy lại có thể đến từ kẻ không chung huyết thống. Quách dịu lòng nhìn ngắm ông Cổn lặng lẽ, thành kính trước những bát hương nghi ngút khói. “Con vẫn mãi là thằng Quách họ Chế, ông à. Nhưng họ tộc cần bất cứ việc gì, ông cứ gọi con. Con còn là thằng Quách của chi dưỡng tử nữa mà ông”.
NGUYỄN HỒNG



