(VNGL – Nghiên cứu & Phê bình). Châu thổ Cửu Long, sóng nước Mê Kông – vùng đất đai trù phú “Ruộng đồng mặc sức chim bay/ Biển hồ lai láng mặc bầy cá đua”, vùng đất hoang sơ “Muỗi kêu như sáo thổi/ Đỉa lềnh như bánh canh” của ngày đầu khai sơn bộ hổ dường đã lùi xa khi truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư mở ra trước mắt người đọc những không gian khô cằn, xơ xác “những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng”, “mặt nước váng phèn vàng sẫm quánh lại trên bộ lông của những con vịt đói”. Vẫn là nếp sống của con người Nam bộ cần cù, gắn bó với thiên nhiên, ruộng đồng gò bãi, nhưng ở “góc quay” khác, bối cảnh đã khác xưa. Chất hào sảng tích từ phù sa màu mỡ, từ thơi thới cá nước chim trời giờ hoang vắng, buồn lặng như cánh đồng sau mùa gặt. Ở đó, những người như nhân vật Điền, Nương không còn có được niềm hạnh phúc thiên nhiên hào phóng nuôi dưỡng, họ sống trong một không gian khắc nghiệt, họ mang cảm giác hoang mang trơ trọi của kiếp người chìm lấp vào sự đổi thay bất ổn của môi trường tự nhiên, họ bị mắc kẹt trên hành trình du mục không điểm cuối.
Cảm giác thường trực trong Cánh đồng bất tận là nỗi lo âu, khắc khoải về môi sinh. Ý thức sinh thái hiện diện như một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Hạn hán, dịch bệnh, mất mùa, bầu sinh quyển sống như cô đặc. Con người hiện lên không còn ở vị trí trung tâm, chinh phục, thắng thế, họ ở vai người “cộng sinh” trong một tương quan bị động, lép vế và kiệt quệ. Sống giữa “sông lớn mênh mang mà không có nước để dùng”, “như đi giữa đất dằng dặc mà không có cục đất để chọi chim”. Họ, những kẻ chăn vịt chạy đồng nay đây mai đó đã chọn hòa vào thiên nhiên để sinh tồn, nếu không muốn nói phải “thường biến” để thích nghi. Tập tính sống hoang dã dạy họ “biết nhìn bướm bay, mây trôi, nghe bìm bịp kêu để biết nắng hay mưa”, con nước xuống hay nước ròng, biết phân biệt vết răng rắn hổ hay rắn bông súng cắn sau vài lần rút kinh nghiệm… suýt chết. Và cũng để sinh tồn, những thói quen đời thường bị tiêu triệt, những ước mơ khát vọng rất người trở nên xa lạ. Đói nghèo và kiệt quệ, thiếu thốn và tổn thương, chạy trốn và mưu sinh đã bóp nghẹt những quyền sống vốn dĩ rất bình thường của những con người bé mọn ấy. Họ “đánh mất thói quen chiêm bao”, đánh mất “cái quyền được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, nhận vài món quà quê cùng lời dặn dò quyến luyến”; họ thèm được tự tay trồng xuống chỗ đất in dấu chân du mục một loài cây ăn trái, họ nhớ người, thèm người… Họ tự tước đi niềm thương mến của mình về một mảnh đất, một con người, một kỉ niệm trước lúc ra đi, họ buộc mình “đừng yêu thương quyến luyến bất cứ ai để không ngậm ngùi, để lòng dửng dưng khi cuốn lều nhổ sào đi sang cánh đồng khác. Không một nơi bám víu (dẫu là kỉ niệm) không một chút hi vọng” (dẫu hi vọng biết bao nhiêu!), họ không còn phương cách hay lối thoát “trên những cánh đồng khơi”, “một cánh đồng miên viễn với gió lắt lay những khói nắng héo xèo… cảnh không đổi, người cũng không”. “Đồng khơi” hai tiếng ấy thực sự ám ảnh, nó gọi nỗi cô đơn, niềm hoang hoải, nó khắc cứa nỗi buồn mênh mang của kiếp người giữa bể đồng bao la. Vậy là giữa “đồng khơi”, với môi trường sinh thái đang bị bức tử, họ chật vật trong cái “tự nhiên hoang dã” đã đánh mất tính “nguyên sơ”, họ ngoi ngóp ngụp lặn trong hậu quả của phần thiên nhiên bị “đô thị hóa”, “bê tông hóa”, bị bào mòn bởi biển lấn, nước mặn, bờ lở, đất sụt và những lòng sông cồn cào đói cát, nhớ phù sa. Và đâu chỉ có thế, buồn thay, giữa biển người bao la, giữa nhân quần xã hội, họ buộc phải sống một cuộc đời khác giống loài đến đau đớn: những tử tế, yêu thương, đầm ấm, sum vầy chỉ là ước vọng, hoặc chỉ còn là kỉ niệm xa xôi.
Cánh đồng bất tận có phải là tác phẩm văn học sinh thái? Trữ ngân ý nghĩa của truyện ngắn này có lẽ là câu trả lời thỏa đáng nhất. Trước hết, có thể khẳng định ý thức sinh thái hiện diện trong nghệ thuật xây dựng không gian, thời gian, hệ thống nhân vật, tình huống, cốt truyện… Ở điểm này, tác phẩm có nhiều nét tương đồng với các sáng tác mang ý thức sinh thái như Người ăn kiêng của Hang Kang, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Kiến và người của Trần Duy Phiên… Tuy nhiên, lại có nhiều điểm khác biệt so với tác phẩm văn học sinh thái như Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson, Một mình trong rừng của Henry David Thoreau, Quả táo thần kỳ của Kimura (Takuji Ichikawa)… Điều dễ nhận ra, văn học sinh thái và tác phẩm văn học có ý thức sinh thái đặt vị trí con người, mối quan tâm về con người trong quan hệ với tự nhiên rất khác nhau. Nói như nhà văn Nguyễn Minh Châu, “văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”. Còn phê bình sinh thái, văn học sinh thái “dàn xếp cân bằng giữa con người và thế giới phi nhân loại” (Cheryll Glotfelty). Nguyễn Ngọc Tư chọn cách quan sát, xây dựng nhân vật của mình trong quan hệ ràng buộc với thiên nhiên và nhân quần. Ở đó, môi trường thiên nhiên xuất hiện với vai trò vừa là hoàn cảnh bộc lộ số phận, vừa là đối tượng đầy trăn trở trong cảm thức sinh thái của nhà văn. Không phải là vấn đề sinh thái độc lập, tách biệt và thuần túy, nó gắn vào cuộc sống con người một cách bền chặt, trở thành không gian chuyển tải dụng ý nghệ thuật, tư tưởng của nhà văn.
Trong Cánh đồng bất tận, thân phận người rốt cuộc là vấn đề nhà văn quan tâm nhất, nhưng không phải kiểu con người đóng vai trò trung tâm, chủ thể trong mối quan hệ với tự nhiên. Họ không chinh phục, không thắng thế mà ngoi ngóp giữa kiệt quệ môi sinh bằng bản năng sinh tồn. Ở đó vỉa tầng của những vấn đề nhân sinh – sinh thái, tự nhiên – văn hóa được khám phá, soi chiếu đậm chất nhân văn. Nếu nhân vật Yeong – hye trong Người ăn chay dần khước từ giao tiếp, nói chuyện, không muôn ăn uống chỉ muốn lặng im phơi nắng như một cái cây, thì trùng hợp thay, hai chị em Điền, Nương trong cánh đồng bất tận cũng đã tự tiêu biến một nhu cầu rất người – đó là chuyện trò, đối thoại. Có một kiểu ngôn ngữ giao tiếp kì lạ giữa người với người như: “tụi mình hổng nói tiếng người?”, “nó không hề máy môi, tôi đọc được những ý nghĩ trong Điền”. Khi bị bủa vây trong cô đơn, bị bứt lìa khỏi thế giới nhân quần, những thói quen tự nhiên như nói chuyện cũng biến mất. Thay vào đó, chỉ có thể nói bằng mắt, thấu bằng tim, dẫu “bão tơi bời” trong ý nghĩ, dẫu “gió quất điên cuồng vào trái tim nhỏ chi chít vết đau”. Hai đứa trẻ, một là “đồng – loại”, và một là “đồng – loại còn lại”, càng ngày càng lầm lụi không nói, mặt mũi lúc nào cũng “chù ụ”, ngồi “lặng câm như cái mả”. “Đắm đuối với loại ngôn ngữ mới, chúng tôi chấp nhận để cho người ta nhìn mình như những kẻ điên (miễn là tạm quên nỗi buồn của cõi – người)”. Đâu chỉ thế, Điền và Nương còn hiểu được tiếng vịt, và vịt cảm nhận được trái tim con người: “Bầy vịt nhạy cảm khủng khiếp, sau nầy, tôi cố sửa lại những chỗ hụt hơi ấy, chúng nhận ra ngay, và nhìn tôi với vẻ ngờ vực. Ủa, phải con – người hôm trước không ta? Nó chớ ai, giọng có khác, nhưng rõ ràng là tiếng trái tim nó. Quen lắm. Chập chờn, thút thít, đòng đưa như sắp rụng…”. Trong tận cùng nỗi trống trải, giao tiếp của con người với thế giới xung quanh dường như chỉ thu gọn vào những mối quan hệ bé mọn, giản đơn, quen thuộc nhất, nhưng đồng thời lại mở ra những giới hạn không ngờ trong hành trình khám phá, đối diện thế giới nội tâm. Khi trút đi những tập tính người, những thói quen người và “trần trụi” giữa thiên nhiên, con người lại trở về với bản thể nguyên thủy hoang sơ nhất của mình. Tiếng “đồng – loại”, “con – người” trong cuộc “hội thoại” câm lặng giữa Điền – Nương, vịt – người, theo quán tính ngữ nghĩa mà nhà văn sử dụng phải chăng đều hướng đến những gì thuộc về bản thể tự nhiên, đồng trị – vô sai biệt.
Trĩu nặng tâm tư với cuộc đời và tâm hồn gắn bó thiên nhiên khiến nhà văn Nguyễn Ngọc Tư muốn “nói thật nhiều điều”. Cánh đồng bất tận và nhiều tác phẩm khác của chị, trở thành diễn ngôn nghệ thuật về con người và tự nhiên, văn hóa và môi trường, văn minh và hoang dã, bản thể và tạp biến, ý thức và vô thức cộng đồng, trở thành những đối thoại đa thanh, bất tận trên cánh đồng ngôn ngữ giàu suy tư, sâu lắng mà dung dị của cây bút tài hoa.
Những mong cầu rất người bị tước đoạt, tình trạng tha hóa vì đời sống vật chất, vì những định kiến xã hội, vì khủng hoảng môi sinh luôn là những câu hỏi lớn trong lẽ tồn sinh và ý nghĩa cuộc đời. Nhưng oái oăm thay mọi thứ không dễ thay đổi, cuộc sống vẫn tiến diễn bằng những nghịch lí. Và hành trình hiện thực hóa những khát vọng lí tưởng, biến những “vô thức” thành “ý thức” chính đáng mãi là hành trình đầy gian khó của loài người. Đề từ của truyện ngắn Cánh đồng bất tận đâu phải ngẫu nhiên đề cập đến hai trạng thái cảm xúc – bộc phát và tiết chế: “khi nào bạn bực tức hãy bất động đừng nói gì – dù chỉ một lời… Trời ơi mình giận muốn chết, mình muốn gào thét, muốn cào cấu muốn đập phá mà không cho mình nhúc nhích, sao có thể hả hê”! Sự mất tiếng của “vô thức xã hội” trong điều kiện nhất thời, không có nghĩa là nó không tồn tại, tiếng nói ấy vẫn hiện diện đâu đó, vang vọng trong tư tưởng và hành ngôn của nhà văn như một nhu cầu tự nhiên, bức thiết. Càng câm nín, càng đè nén thì ý thức về nó càng rõ ràng, mạnh mẽ. Nhà văn chọn cách lên tiếng bằng ngôn từ, hình tượng, bằng vô ngôn khoảng trống, khoảng trắng giữa những con chữ khi đã ủ ngấu tâm tư.
Quả thực, Cánh đồng bất tận là những trăn trở thao thiết của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư về tự nhiên và tình trạng hoang hóa của con người hiện đại. Có một tự nhiên bị xâm lấn, bức hại đến tiêu điều, kiệt quệ, và con người trở thành nạn nhân của nó, hay đúng hơn của chính tham lam, mông muội. “Những cánh đồng trở thành đô thị, những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát,… lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống giữa thị thành”. Đau đớn nhất, họ bị bứt lìa ra khỏi môi trường vốn từng nâng niu, thân thiện và đau đáu nhìn những gì gắn bó hiền hòa ấy bị bào mòn, xói lở. Kiệt quệ của sinh thái và cuộc sống đã đẻ ra “những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói”. Trên cánh đồng mênh mông bất tận, cuộc đời cứ nối dài bằng “những thằng Hận, thằng Thù thất học hung hãn”, những đứa trẻ đáng thương như Điền như Nương, những con người đau khổ tha hóa bế tắc như Út Vũ, Sương.
Và có thiên nhiên bị bức tử thì có thiên nhiên “báo ứng”: “càng ngày càng trở nên hung dữ hơn, khắc nghiệt hơn, bằng những sấm chớp gầm gừ, dường như trời đất đã nín nhịn nhiều, cuồng nộ bắt đầu rồi đây… rằng trời chỉ trút mưa trút nắng ở nơi chúng tôi dừng chân lại”. Trên cánh đồng bất tận, chị em Nương không còn nhiều lựa chọn, thiên tai, nhân ách, dịch họa và cả những đổ vỡ mất mát mòn xói trong tâm hồn. Thiện lương và khát vọng sống yêu thương đã níu giữ họ không rơi vào vòng xoáy tha hóa. Cánh đồng bất tận và những tác phẩm khác của Nguyễn Ngọc Tư như Sầu trên đỉnh Puvan, Cái nhìn khắc khoải, Bóng của thành phố, Giàn bầu trước ngõ, Đá nở hoa… trở thành lập ngôn của nhà văn về văn hóa và tự nhiên, phận người với những tâm tư cuộc đời trong một môi trường thiên nhiên đầy suy biến. Từ góc nhìn này, tác phẩm Cánh đồng bất tận mang tư tưởng nhân văn sâu sắc, không còn bó hẹp trong câu chuyện về con người và thiên nhiên theo phong cách phương ngữ Nam bộ mà mở rộng biên độ ra cõi người, phận người trong hành trình vượt thoát khỏi sự hoang hóa, bào mòn và đổ vỡ. Nhưng bản năng lương thiện của “con người toàn diện, con người được tự nhiên hóa”, những con người sinh ra gắn bó với gió, mưa, nắng, sương, sông nước, bãi đồng đã vực dậy trong họ sự mạnh mẽ, lòng yêu thương, bao dung, vị tha.
NGUYỄN THỊ KIM THOA



