(VNGL – Nghiên cứu & Phê bình). Cảng thị Nước Mặn là “hóa thân” của cảng Thị Nại – cửa ngõ kinh đô Vijaya của vương quốc Champa. Sau sự kiện vua Lê Thánh Tông đem quân đánh chiếm thành Đồ Bàn cuối thế kỷ XV, cảng Thị Nại hoang tàn, đến cuối thế kỷ XVI cảng thị Nước Mặn ra đời và phát triển phồn vinh rồi suy tàn sau khoảng hai thế kỷ tồn tại. Nơi đây, các thế hệ người Việt đi mở nước cộng cư với người Chăm và người Minh Hương đã tạo dựng một trong những thương cảng sầm uất ở Đàng Trong…
Trong thế đối lập với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong có những quyết sách tận dụng mọi nhân tố cũng như điều kiện thuận lợi tự nhiên, nhằm xây dựng cho mình một thế đứng vững mạnh. Trong tầm nhìn đó, phát triển thương mại hàng hải đã giúp chúa Nguyễn đạt được thành công. Vào cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã khai thác năng lực của các cảng như Hội An (Quảng Nam), Thanh Hà (Huế), và Nước Mặn (Quy Nhơn)(1). Các phố cảng này chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ ngoại thương, đón nhận các đoàn thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa, Hà Lan, Anh Quốc… Trong đó, thương cảng Hội An chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Đặc biệt, Hội An và Nước Mặn là hai phố cảng gắn liền với lịch sử loan báo Tin Mừng của đạo Công giáo ở Đàng Trong.
Trong Hồng Đức bản đồ (1490) thương cảng Nước Mặn được ghi là “Nước Mặn hải môn”. Trong giai đoạn thế kỷ XVI-XVII, Nước Mặn là một cảng thị sầm uất ở phủ Quy Nhơn (Gia Lai ngày nay). Năm 1618, linh mục Borri được quan phủ Quy Nhơn đưa về Nước Mặn; trong một bản tường thuật ông gọi đó là thành phố Nước Mặn (Città Nuoecman). Linh mục Borri không nói đến cảnh buôn bán ở Nước Mặn, nhưng ông cho biết không gian rộng lớn của cảng thị này: “dài năm dặm, rộng nửa dặm”(2). Năm 1650, cảng Nước Mặn được các linh mục Dòng Tên vẽ trên bản đồ với tên gọi “Nehor Man ou Eau salée”.

Đầu thế kỷ XVII, thị trường nội địa phát triển, thương cảng Hội An bước vào giai đoạn phát triển khá mạnh, thu hút các nguồn hàng hóa khắp nơi xứ Đàng Trong về đây trao đổi, buôn bán với người nước ngoài. Cảng Nước Mặn có mạng lưới sông ngòi và đường bộ kết nối vươn dài đến Tây Nguyên, thông qua hệ thống nguồn thu gom hàng hóa về đây trao đổi. Nước Mặn đã nhanh chóng trở thành trung tâm giao lưu hàng hóa, cảng trung chuyển. Ưu thế của Nước Mặn là khả năng thu hút các loại lâm sản (trầm hương, sừng tê giác, các loại gỗ quý…), nông sản (đường, đậu các loại), các loại hải sản đã chế biến (cá khô, đồi mồi, nước mắm…) và hàng thủ công (tơ lụa, đồ gỗ, đồ gốm) vận chuyển đi các nơi(3).
Năm 1749-1750, Pierre Poivre, thương nhân Pháp, du hành đến Đàng Trong và viết trong hồi ký của mình: “Tại tỉnh Qui Nhơn có một thương cảng khác gọi là Nước Mặn là một cảng tốt, an toàn, được thương nhân lui tới nhiều, nhưng kém hơn Faifo (Hội An), lại không thuận tiện vì quá xa kinh thành, mà các thuyền trưởng thì nhất thiết phải đi đến kinh thành nhiều lần và phải đi ròng rã 6 ngày đường” (4). Như vậy, có thể xác định thời phồn vinh của cảng thị Nước Mặn là từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân, “Thời phồn vinh, Nước Mặn có đường hàng hải quốc tế của người Bồ Đào Nha đi lại buôn bán với Vuconva, Luzon (Philippines), Malaysia, Macao và có lẽ cả Nhật Bản. Nước Mặn có đường biển tới các cảng trong nước như: Hội An, Đà Nẵng, Phú Xuân, Cam Ranh, Gia Định; đường sông tới các thị tứ ở Qui Nhơn như: Đập Đá, An Thái, Phú Phong, Đại An, Gò Găng, Phú Đa”(5).
TS. Đỗ Bang đã nhận xét: “Xét về tầm vóc của thương cảng, Nước Mặn không thể hơn cảng Thị Nại thời vương quốc Champa (thế kỷ X-XV). Xét về ngoại thương, Nước Mặn cũng khó sánh được với Hội An, Thanh Hà, Phố Hiến… nhưng về nội thương, Nước Mặn có vị thế quan trọng cho cả phủ Qui Nhơn và vùng Tây Nguyên hiện nay” (6).
TS. Lê Đình Phụng, trong bài Thương cảng Nước Mặn (Qui Nhơn) – Xứ Đàng Trong, cho rằng: “Nằm trên địa bàn một phủ giàu có, gần các phủ Phú Yên, Bình Khang, dinh Nha Trang, có nguồn hàng dồi dào từ cao nguyên đổ về, cảng Nước Mặn có vai trò quan trọng trong giao lưu thương mại… cũng như các thương cảng xứ Đàng Trong, cảng Nước Mặn hoạt động chủ yếu với sự tham gia của các thương nhân người Hoa và thương nhân châu Âu qua lại buôn bán, thu mua hàng hóa, sản vật nhiệt đới”(7).
Năm 1994, đoàn khảo cổ Việt – Nhật đã khảo sát nghiên cứu khu vực Nước Mặn. “Đặc biệt, khi được tiếp xúc trực tiếp với những mảnh sứ Hizen tìm lọc từ trong “mớ hỗn độn” đồ sứ Trung Hoa do dân địa phương thu gom được, chúng tôi nhận thấy thương cảng Nước Mặn hình như có đủ các loại hình gốm Hizen mà tại địa điểm khảo cổ học ở Indonesia và Thái Lan đã tìm thấy (Hizen wares abroad 1990). Trong đó cũng có những loại mà ở thương cảng Thanh Hà và Hội An chưa phát hiện được”(8).
Vào tháng 4 năm 2006, Bảo tàng tổng hợp Bình Định (nay là Bảo tàng tỉnh Gia Lai) đã tổ chức khảo sát nhưng không quy mô. Kết quả được ghi nhận: “Hố khảo sát chỉ có diện tích 6m², lại mới đào khoảng 50cm, nhưng các nhà khoa học đã tìm thấy hàng vài trăm mảnh gốm sứ các loại: gốm Gò Sành (gốm Champa TK XIV-XV), gốm Chu Đậu (Việt Nam, TK XVI), Nhật Bản, Trung Quốc (TK XVII), thậm chí cả gốm vùng Trung Cận Đông, gốm Thái Lan. Nhiều nhất vẫn là gốm Champa, Trung Quốc và Nhật Bản. Gốm Trung Quốc và Nhật Bản cùng mang màu xanh trắng, nhưng có thể phân biệt khá rõ về sắc độ và sự tinh xảo. Có mặt tại điểm khảo sát, tiến sĩ Roxana M.Brown (một chuyên gia về gốm Đông Nam Á, hiện là Giám đốc Bảo tàng Gốm Đông Nam Á thuộc Đại học Bangkok – Thái Lan), nhận xét: “Niên đại của các hiện vật gốm Trung Quốc và Nhật Bản nằm khoảng thời gian từ 1620 đến 1680”(9).
Tháng 7 năm 2016, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định phối hợp với Viện Khảo cổ học, tổ chức khai quật khảo cổ khu vực thương cảng Nước Mặn do thạc sĩ Bùi Văn Hiếu, cán bộ Viện khảo cổ học chủ trì. Kết quả khai quật bốn hố thám sát về vật liệu kiến trúc, thu được 789 mảnh gạch ngói, đa phần đều bị vỡ nhỏ. Đồ gốm sứ, thu được 4.844 mảnh đất nung, gốm men và sứ cũng phần lớn đều vỡ nhỏ. Gốm men và sứ bao gồm các loại hình bát, đĩa, cốc… với các dòng men nâu, ngọc, trắng, lam có nguồn gốc Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, niên đại trải dài từ thế kỷ XVI-XVII đến thế kỷ XIX-XX. Đồ sành, thu được 2.823 mảnh, chủ yếu niên đại khoảng thế kỷ XVII-XVIII. Đồ sắt, thu được 12 hiện vật đã bị oxy hóa nặng, chưa xác định loại hình và niên đại. Ngoài ra có năm đồng tiền và một mảnh tiền cũng bị oxy hóa nặng, trong đó có hai đồng cho thấy tiền Khai Nguyên thông bảo (713-741) và Khang Hy thông bảo (1661-1722)(10).
Sách Đại Nam nhất thống chí, bản chép thời Tự Đức, trong phần tỉnh Bình Định, mục thị tập có ghi tên 118 chợ lớn nhỏ trong toàn tỉnh Bình Định, nhưng không thấy có Nước Mặn, dù chỉ là một chợ nhỏ(11). Như thế, bước sang thế kỷ XIX, cảng thị Nước Mặn vang bóng một thời đã suy tàn, là thời kỳ phát triển của thị tứ Gò Bồi trở thành một “tiểu cảng thị” nối tiếp vai trò của Nước Mặn và cũng để chuẩn bị cho cảng thị Quy Nhơn ra đời vào giữa thế kỷ XIX, tạo tiền đề phát triển cho thành phố Quy Nhơn ngày nay(12).
Một cảng thị ra đời, hưng thịnh, suy vong, lụi tàn đều có những lý do của nó. Cảng thị Nước Mặn bao gồm các thôn An Hòa và Lương Quang xã Phước Quang, thôn Kim Xuyên xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước (cũ). Trải qua thời gian dâu bể, sự bồi đắp tự nhiên của phù sa, cảng thị đã suy tàn và biến dạng.
Vào thế kỷ XVII-XVIII, do sự bồi đắp mạnh mẽ của các dòng sông, cửa khẩu đi vào Nước Mặn được gọi là Kẻ Thử (13) đã bị bồi lấp, nối liền núi Bà ở phía Bắc và núi Đơn ở phía Nam tạo nên một trảng cát dài hơn 8km. Ngày nay, tại vùng đất này vẫn còn tên gọi chợ Kẻ Thử thuộc thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát.
Theo bản đồ địa chất Nghĩa Bình, từ Đề Gi qua núi Bà đến Quy Nhơn có mạch đứt gãy hoạt động từ 500 năm nay, mạch đứt gãy chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Cửa Kẻ Thử nằm ngay trên mạch đứt gãy này nên đành chịu sự vùi lấp của nó. Cách nay khoảng hơn 200 năm, mạch đứt gãy này có sự kiến tạo đột biến ở phía Nam núi Bà làm cho vùng này trồi lên cách bất thường. Cửa Kẻ Thử bị lấp. Nó đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình(14).
Suốt khoảng hai thế kỷ tồn tại (từ cuối TK XVI đến cuối TK XVIII), phát triển tới phồn vinh rồi suy tàn, cảng thị Nước Mặn không chỉ là một trung tâm thương mại mà còn là một trung tâm văn hóa của phủ Quy Nhơn, của Đàng Trong trên hành trình mở nước về phương Nam của dân tộc. Đặc biệt, Nước Mặn là Cư sở truyền giáo đầu tiên của đạo Công giáo ở Đại Việt (1618) và là nơi phôi thai, hình thành chữ Quốc ngữ “tiền Đắc Lộ”.
NGUYỄN THANH QUANG – LM. GIOAN VÕ ĐÌNH ĐỆ
[1] Xem Đỗ Bang, Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII, Luận án PTS. Khoa học lịch sử, Hà Nội 1993, tr. 172.
[2] Theo Christoforo Borri, Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina, Francesco Corbelletti, Roma 1631, tr. 133: Nước Mặn có diện tích “di cinque miglia in lungo, e di mezzo in largo” (dài năm dặm, rộng nửa dặm). Bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ: Tường trình về Khu truyền giáo Đàng Trong 1631, Nxb. Thăng Long, Hoa Kỳ 1989, tr. 75: “Nước Mặn, một địa điểm dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi”. Bản dịch tiếng Pháp của Bonifacy: Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, trong Bulletin des Amis du Vieux Huế, Juillet-Dec. 1931, tr. 351: “…Nuoecman, qui s’étend sur une longeur de cinq milles, et une largeur de cinq milles” (dài năm dặm, rộng năm dặm).
Tên tác giả và tên tác phẩm trên đây được viết bằng tiếng Ý thế kỷ XVII có phần khác với tiếng Ý hiện nay. Theo tiếng Ý hiện nay, tên tác giả và tác phẩm được viết như sau: Christoforo Borri, Relazione della nuova missione dei PP. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina. Tuy nhiên trong sách này chúng tôi giữ nguyên tên tác giả và tác phẩm theo cách viết thời ấy.
[3] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập I, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960, tr.362; Quách Tấn, Nước non Bình Định, Nxb Nam Cường, 1967, tr. 389-395.
[4] Đỗ Bang, Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII, Hà Nội 1993, tr. 160; Henri Cordier, “Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine, description de la Cochinchine”, trong Revue de Extrême-Orient, T. III, 1887, tr. 167.
[5] Nguyễn Xuân Nhân, Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, 2010, tr.94.
[6] Đỗ Bang, Phố cảng vùng Thuận Quảng, sđd, tr.164.
[7] Lê Đình Phụng, Thương cảng Nước Mặn (Qui Nhơn), Xứ Đàng Trong, in trong Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Nxb. Thế Giới, 2007, tr.583-592.
[8] Bùi Minh Trí, Phạm Quốc Quân, Gốm Hizen Nhật Bản tìm thấy ở một số địa điểm khảo cổ học ở Việt Nam, Tạp chí Khảo cổ học, số 4/1994, tr.44.
[9] Viết Thọ – Hoài Thu, “Khảo sát cảng thị Nước Mặn”, trong Báo điện tử Bình Định, 8:18’, 28.04.2006.
[10] Xem Báo Bình Định, ngày 24.07.2016.
[11] Xem Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Bình Định (bản dịch của Nguyễn Tạo), Nhà Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản năm 1964, tr. 84-92.
[12] Trong tấm bia ở đền Quan Thánh thuộc thành phố Qui Nhơn có ghi một người họ Nguyễn, quê Nước Mặn, cúng năm quan tiền để xây dựng ngôi đền này vào năm 1837.
[13] “Kẻ” có nghĩa là cửa. Cửa Kẻ Thử còn được dân địa phương gọi là cửa Cách Thử.
[14] Xem Đỗ Bang – Nguyễn Tấn Hiểu, Lịch sử thành phố Qui Nhơn, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 76-83.



